Thứ Bảy, 17 tháng 2, 2024

TRẦM KHA

  

TRẦM KHA

 

                                                                        Bùi Ngọc Hiển

 

        Hiện nay thấy trên sách báo, cả sách báo in trên giấy, cả “sách báo” trên mạng truyền thông... nhan nhản những kiểu nói / viết như “chứng bệnh trầm kha”, “căn bệnh trầm kha”... Không biết “bệnh trầm kha” là thứ bệnh gì, là SIDA, ung thư, bệnh do virus corona gây ra..., hay một thứ bệnh nào mới mẻ ? Đành phải tra cứu các loại từ thư.

        Theo các từ điển giải thích chữ Nho thì mặt chữ Nho của :

1. Chữ trầm trong “trầm kha” chỉ có thể là (hoặc dị thể, tức cách viết khác, là ). Chữ trầm này có các nghĩa :

    - Động từ : chìm, đắm trong nước ; lặn xuống nước ; ném xuống nước, dìm nước ; sụt xuống, lún xuống. Thí dụ : 自沈 tự trầm = tự ném mình vào trong nước cho chết chìm.

    - Hình dung từ : sâu, sâu xa, sâu kín ; lâu ; khuya ; nặng ; chỉ mức độ nhiều, đậm. Thí dụ : 沈重 trầm trọng = nặng nề.

    Chữ này còn đọc với âm Nho là trấm, thẩm.

2. Chữ kha trong “trầm kha” chỉ có thể là (hoặc dị thể là ; cả hai chữ này còn có âm Nho là a), có nghĩa là ốm, bệnh tật (danh từ hoặc hình dung từ). Thí dụ : Trần Minh tông (1300 – 1357) trong bài Tương tịch kí Kim San thiền sư 將寂寄金山禪師 có câu :

                    Bão kha dục hiệp tuần

                        抱痾欲浹旬

        nghĩa : Ôm bệnh hầu chục ngày.

        Hai chữ dùng kép với nhau tạo thành danh từ kép bất đẳng lập : trầm kha, thành phần chính là danh từ kha, thành phần thêm nghĩa cho danh từ kha là hình dung từ trầm. Danh từ kép này có nghĩa là : bệnh nặng khó chữa, bệnh lâu không khỏi ( 重病 ; 久治不愈的病 trọng bệnh ; cửu trị bất dũ đích bệnh).

Từ ngữ “trầm kha” trong Hán Việt từ điển giản yếu,

Đào Duy Anh, NXB Minh Tân, Paris, 1949

 

Từ ngữ “trầm kha” trong Hán Việt tân từ điển,

Hoàng Thúc Trâm, NXB Hoa Tiên, 1950

 

Từ ngữ “trầm kha”, âm quan thoại là chénkē,

trong Từ điển Trung Việt, NXB KHXH, 2006.

 

        Trầm kha hầu như không được các tác giả Việt Nam dùng trong các thơ văn Nôm, chỉ gặp trong các tác phẩm Nho. Thí dụ :

        Trịnh Hoài Đức (1765 – 1825), trong bài thơ 傷第三子天化 Thương đệ tam tử Thiên Hoá, có câu :

                Trầm kha vô xứ mịch thần y

                        沉痾無處覓醫神

        Nghĩa : bệnh nặng mà không tìm đâu ra thần y (để chữa trị).

        Các tác giả Tầu dùng “trầm kha” nhiều hơn và từ rất sớm, cả biền văn lẫn vận văn, như Quy Hữu Quang (1507 – 1571) trong bài Dữ Ngô Tam Tuyền thư 與吳三泉書 có câu :

             Di niên trầm kha, vô nhất nhật cường kiện

                     彌年沉痾 , 無一日強健

        Nghĩa : bệnh nặng suốt một năm ròng, chẳng có lấy một ngày khỏe mạnh.

        Và nhiều tác giả khác nữa, miễn dẫn ra đây kẻo quá dài.

        Như thế “trầm kha” tự nó đã có nghĩa là “bệnh nặng”, chẳng cần gì phải thêm “[chứng / căn] bệnh” vào đằng trước “trầm kha” như cách dùng sai hiện nay, thành “chứng bệnh trầm kha”, “căn bệnh trầm kha... Cách viết / nói đúng lẽ ra phải là “[chứng / căn] bệnh hiểm nghèo, bệnh nặng, bệnh trầm trọng, bệnh khó trị, bệnh nan y...”. Nhưng vì tâm lí ham của lạ, ra vẻ hiểu biết, nên nói sai dùng sai ngày càng trở nên đầy dẫy. Nếu dịch “bệnh trầm kha” sang tiếng Anh cho hoàn toàn sát nghĩa thì từ ngữ gọi là tương đương sẽ phải là “severe illness illness”, nghĩa là phải dùng đến hai lần từ ngữ illness (hoặc disease, malady...). Điều này cũng giống như có nhiều người Công giáo hay nói Gia đình Thánh Gia, mà tiếng Anh tương đương sẽ phải là Holy Family Family, hoặc tiếng Latin tương đương phải là Sancta Familia Familia !

        Không dùng “trầm kha” như những cách nói trên, có tác giả Công giáo lại dùng “trầm kha” theo “cách của riêng mình” trong một bài hát mà rất nhiều nhà thờ đã đua nhau hát vào Mùa Chay. Bài hát đó có câu mở đầu như sau :

                Bao năm trôi qua hồn con lạc bước đi xa, quên bao ơn Cha trầm kha bể đắm bao la...

        Có lẽ ý tác giả muốn nói rằng (phỏng đoán thế thôi, không biết có phải đúng là ý tác giả không) :

                “Vì trong quãng thời gian nhiều năm qua, hồn con đã lạc bước và đã đi xa, nên đã chìm trong một thứ ‘bể đắm’ nào đó rộng mênh mông”.

        Nhưng (lại) có lẽ rằng “chìm trong” là từ ngữ nghe đã quen tai, có vẻ nôm na quê mùa, không hay, nên phải dùng chữ Nho cho nó hay. Kể ra cũng có một động từ kép chữ Nho là trầm luân 沈淪 như Nguyễn Du từng viết :

                Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân.

                                                     (Kiều, câu 1080)

        Tuy thế, “trầm luân” cũng khá quen thuộc, nên cũng... không hay (!).

        (Lại) có lẽ để cho được “hay”, nên tác giả bài hát cố lùng kiếm một từ ngữ “mới lạ”, bèn gặp được một từ kép chữ Nho khác cũng có “trầm”, ấy là “trầm kha”. Thế là dùng luôn.

         Nhưng như đã trình bày, “trầm kha” chỉ có nghĩa là “bệnh nặng lâu ngày, bệnh khó chữa”, không hề có nghĩa nào liên quan đến “chìm” với “đắm” hay với “trầm luân”..., có thể xem lại các từ điển đã dẫn trên.

        Thử phân tích theo chữ nghĩa tác giả đã dùng xem thật ra câu tác giả viết có ý nghĩa thế nào :

                Bao năm trôi qua hồn con lạc bước đi xa, quên bao ơn Cha trầm kha bể đắm bao la...

1. “bao năm trôi qua” là trạng ngữ chỉ về khoảng thời gian đã lâu ;

2. “hồn con” là danh từ kép, thành phần chính là “hồn”, “con” tức là “của con” ; “hồn con” làm chủ ngữ cho ba động từ sau :

      2. 1. “lạc (bước)” ;

      2. 2. “đi (xa)” ;

      2. 3. “quên” ; trong câu tác giả đã viết có tới ba hành động “quên”, là :

            2. 3. 1. quên “bao ơn [của] Cha” ;

            2. 3. 2. quên cái gọi là “trầm kha” ;

            2. 3. 3. và quên cái gọi là “bể đắm bao la”.

        Vậy cả câu có nghĩa là :

            Suốt từ bao năm qua [cho đến bây giờ], hồn con đã lạc bước, đã đi xa, đã quên không những là ơn Cha, hồn con còn quên cả cái bệnh nặng của mình [dù đến nay vẫn chưa khỏi], và sau hết là hồn con cũng quên có một cái bể rộng mênh mông hễ rơi vào đấy là đắm luôn nên mang tên là “bể đắm” !

        Những ý nghĩa đó có liên quan gì với nhau ? Tác giả bài hát dường như ait, nesciens quid diceret (Lc 9:33).

 

 

                                                          BÙI NGỌC HIỂN

 

Nói thêm về chữ dị thể và chữ đồng âm (dị nghĩa)

 

        Trong chữ Nho – Nôm, người ta thường phân biệt chữ chính thể với chữ dị thể.

 

        Chính thể là tự dạng được nhìn nhận chung (công nhận) là dạng chính ; dị thể là cách viết khác sinh ra từ chữ chính thể, thường là do việc “múa bút” mà các nét bị biến dạng, hoặc bị bớt nét đi để viết cho nhanh... Thí dụ :

        - chữ Nho trầm chính thể viết là , dị thể viết là ;

        - chữ Nho quốc (= nước, như trong quốc gia) chính thể viết là , dị thể viết là , , ...

        Về mặt nào đó, trong chữ Quốc Ngữ, là chữ ghi tiếng Việt theo mẫu tự Latin a, b, c..., cũng có thể xem, thí dụ thế, “ý nguyện”, “côn”, “ca”... là chính thể, còn “í nguiện”, “kôn”, “ka”... là dị thể.

 

        Chữ đồng âm (dị nghĩa) là những chữ đọc lên hoàn toàn giống nhau, nhưng nghĩa lại hoàn toàn khác nhau, thậm chí có khi trái ngược, đó là vì những chữ đó không phải có chung một “gốc”.

        Trong chữ Nho – Nôm, các chữ đồng âm (dị nghĩa) có mặt chữ khác nhau, nhưng khi viết bằng chữ Quốc Ngữ thì hoàn toàn giống nhau. Xem các thí dụ :

        明 minh : có nghĩa là sáng, như trong明星 minh tinh = sao sáng, 明月 minh nguyệt = trăng sáng, 幽明 u minh = chỗ tối và chỗ sáng, tức là cõi âm và cõi dương, 明心寶監 minh tâm bảo [cũng đọc : bửu] giám = gương báu sáng soi cõi lòng... ;

        冥 minh : có nghĩa là tối tăm, như trong 幽冥 u minh = mù mịt tối tăm, 冥頑 minh ngoan = ngu tối mà bướng bỉnh, dốt nát lại cứng đầu cứng cổ... ; chữ minh này cũng có khi thay bằng ;

        盟 minh : có nghĩa là uống máu ăn thề, là một chữ hình thanh, gồm chữ bộ thủ là mãnh (= cái chén, cái mâm...), chỉ ý (những người cùng thề đều cắt máu rót chung vào một chén rồi cùng hòa lẫn với rượu và chia nhau cùng uống khi lập thệ) và chữ minh hài âm (chỉ âm đọc của chữ), như trong 同盟 đồng minh = những người, nước... cùng chung một lời thề nào đó... ;

        銘 minh : có nghĩa là ghi nhớ, như trong銘心刻骨 minh tâm khắc cốt = chạm khắc vào xương ghi nhớ vào lòng... ;

        鳴 minh : có nghĩa là kêu lên, làm cho kêu, tiếng kêu, như trong 鳥鳴 điểu minh = chim hót, 雷鳴 lôi minh = sấm dậy, tiếng sấm, 鳴鑼 minh la = đánh phèng...

và còn nhiều chữ khác cũng đọc là minh với các nghĩa khác.




CHÚA NHẬT II MÙA CHAY



Năm B – 2024

Tin Mừng Marco 9:1–9

 

Chúa đem môn đệ cùng lên

Đỉnh cao ngọn núi thiên nhiên nhiệm mầu

Áo Ngài trắng tuyết như nào

Kìa Êlia đến mau với Người

 

Tiếp Môsê cũng đến đây

Ba môn đệ ngủ, thức ngay dậy nào

Phêrô thấy tốt biết bao

Thầy ưng con cất lo mau  ba nhà

 

Một cho Thầy ở diễn ra

Hai cho hai vị mỗi nhà ở luôn

Bấy giờ tiếng nói không trung

Con Ta yêu dấu hãy cùng vâng theo.

 

SỨ ĐIỆP TIN MỪNG. B – 2024

 


CON NGƯỜI LÀ BỤI TRO


Bụi tro Thiên Chúa tạo thành

Con người trần thế sống sinh trên đời

Ban cho cuộc sống khắp nơi

Dựng xây nước Chúa đất trời trần gian

 

Thời gian sau đã kiện toàn

Trở về tro bụi hảo hoàn khi xưa

Công lao ngày tháng trải qua

Quan phòng xép dặt bao la ơn lành

 

Thưởng công ơn phúc tạo thành

Chúng sinh sống với ân tình trao ban

Xứng danh vào chốn thiên đàng

Hiệp chung chư thánh hát vang Chúa Trời.

 

THỤ TẠO TRO BỤI. 2024

 


ĐỐI THOẠI GIỮA

CHỦ CHĂN – CHỦNG SINH

TGP HÀ NỘI



Lời ngài hướng dẫn trên môi

Thấm nhuần đầu óc bao người chủng sinh

Bởi lời phát xuất tâm tình

Của người mục tử từ tim dạy truyền

 

Lẵng hoa tươi thắm dâng lên

Xin cha vui nhận triền miên lòng thành

Chúng con cúi nhận thi hành

Những lời khuyên bảo chân tình ban cho

 

Cuộc đời tu luyện chăm lo

Biến thành kết quả tới cho cuộc đời

Hiến dâng phục vụ Nước Trời

Theo lòng mong ước mọi người cầu luôn.

 

LỜI ĐỔI LẤY HOA. 2023

 

 

HÀNH HƯƠNG MẸ NÚI CÚI XUÂN LỘC




Hạt Phương Lâm Định Quán nay

Hành hương Mẹ núi Cúi ngày luân phiên

Thượng – Kinh tham dự đông đen

Chục ngàn người tới ngồi chen nhà thờ

 

Hầm chân Mẹ đứng đỉnh cao

Đức nguyên Giám mục giảng rao Tin Mừng

Chục ngàn người  lắng nghe chung

Hiểu nên ý nghĩa hiệp cùng nhau luôn

 

Maria Mẹ trường tồn

Mẹ chung nhân loại kính tôn muôn đời

Chúa Cha trao Mẹ nhân loài

Để luôn bầu cử mọi người cầu xin.

 

MẸ BẦU CỬ CHUNG. 2023

 


LỜI CẦU NGUYỆN MÙA CHAY



Mùa Chay trời đất nguyện cầu

Một lòng một ý như nhau mọi đàng

Chúa Trời truyền dạy rõ ràng

Đất trời đôi ngả vững vàng triền miên

 

Thế gian cuộc sống tự nhiên

Hợp như thánh ý Chúa trên Nước Trời

 

CẦU XIN ĐƯỢC ƠN BAN. 2024



ĐỨC CHA GIUSE ĐẶNG ĐỨC NGÂN

NHẬM CHỨC TỔNG GIÁM MỤC PHÓ

TỔNG GIÁO PHẬN HUẾ



Lẵng hoa Tổng giáo phận dâng

Xin ngài nhận lấy hồng ân giáo quyền

Tổng giáo phận kính dâng lên

Mừng ngài nhậm chức kính tin quyền hành

 

Mọi thành phần Chúa trao ban

Đưới quyền dìu đắt thánh ân tay ngài

Dù là Huế, Hà Nội đây

Vẫn chỉ một đất nước này hiệp chung

 

Chúa đem ngài bắc vào trung

Hòa đồng con Chúa Tin Mừng giảng rao

 Cho toàn dân Chúa hết nào

Yêu thương thánh thiện truyền rao Tin Mừng.

 

ĐÓN ĐỨC TỔNG NHẬM CHỨC. 10-11-23

 

 

 CÁC HỒNG Y PHI CHÂU CHỐNG ĐỐI



Bộ Giáo lý đức tin đây

Văn thư công bố xong ngay chúc lành

Đồng tính luyến ái lãnh ban

Nhiều nơi chống đối rõ ràng tỏ mau

 

Nhóm Hồng y thuộc Phi châu

Sara Hồng y đứng đầu khởi lên

Bất đồng Giáo hội triền miên

Chống quyền Tổng bộ Đức tin loan truyền

 

Giáo hoàng các vị quyền trên

Đang bao giải thích Thánh Kinh tỏ bày

Lòng thương xót Chúa muốn đây

Tìm nhiều cách cứu độ ngay mọi người.

 

CHỐNG CHÚC LÀNH ĐỒNG TÍNH. 2024


Không có nhận xét nào: