LỄ SUY TÔN THÁNH GIÁ CHÚA GIÊSU
Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015
MẸ SẦU BI
MẸ SẦU BI
Dưới chân thập giá khổ đau
Ngậm ngùi Mẹ đứng mắt nào ngó lên
Nhìn Con yêu dấu đóng đinh
Khổ hình treo xác phơi mình không trung
Mẹ hiền tan nát cõi lòng
Mẹ Con năm tháng đồng công
Đem ơn cứu chuộc đến trong nhân loài
Thế nhân chối bỏ ơn Người
Đáp đền bằng cách kết đời trần gian
Chúng
con xin Mẹ nài van
Khẩn cầu
tha thứ vô ơn muôn người.
Lễ Mẹ sầu bi 15-09-15.
Thứ Tư, 9 tháng 9, 2015
LỄ SINH NHẬT ĐỨC
MẸ
Ngàn năm mòn mỏi
đợi trông
Ơn trời đổ xuống
cháu con tông dòng
Khởi đầu tiên
tổ mất ơn
Xa-tan lừa dối
A-dong E-và
Phước ơn cánh
cửa mở ra
Ma-ri-a Chúa hứa cho nhân loài
Niềm vui Mẹ đến chào đời
Nhân loài đón nhận ơn trời trao ban
Ma-ri-a chứa nguồn ân
Nước trời dổ xuống gian trần đầy dư
Mẹ đem Con Chúa xuống cho
Muôn người trở lại phước do ban đầu.
Sinh nhật Đức
Mẹ 09-08-2015.
(Xin cáo lỗi cùng chư vị độc giả vì bài đăng muộn so với ngày lễ kính Sinh Nhật Mẹ.)
Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2015
Bà Kim David
BÀ KIM DAVID
Tôi xin chấp nhận vào tù
Chứ không đóng mộc ký cho đồng tình
Hôn nhân đồng tính xe duyên
Phá tan luật lệ gia đình ngàn xưa
Văn minh thời đại bây giờ
Sức mạnh đa số tự do lấn quyền
Hoành hành phá luật tự nhiên
Con người dón nhận muôn ơn
Quay lưng trở lại chối luôn ơn trời
Tin rằng tự sức con người
Làm nên tất cả cơ ngơi thế trần
Cầu xin Thiên Chúa ban ân
Giúp cho nhân thế bỏ lần kiêu căng.
Kiêu hãnh con người 2015.
Thứ Hai, 1 tháng 6, 2015
TRƯỜNG SINH VỚI THƯỜNG SINH
TRƯỜNG SINH VỚI THƯỜNG SINH
BÙI NGỌC HIỂN
Dịp lễ Phục Sinh 2015, tại nhà thờ Giáo xứ Nam Đồng có treo đôi câu đối :
Ánh sáng khải hoàn cuối đường thập giá ;
Chiên Con hiến tế mở lối thường sinh.
Đôi câu này đã bị phản ứng. Nhiều người cho rằng trong câu có chữ dùng sai. Phải là "trường sinh" mới đúng ! Vì trong các thánh lễ, người ta quen nghe đọc : ... chúng con dâng lên Chúa bánh trường sinh và chén cứu độ để tạ ơn Chúa đã thương cho chúng con được xứng đáng hầu cận trước Tôn Nhan và phụng sự Chúa ... (Kinh Tạ ơn II, Sách lễ Rôma, 2005).
Vốn 長 生 "trường sinh" có nghĩa là "sống lâu (dài)". Hai tiếng này thường đi ghép với hai tiếng nữa là 不 老 "bất lão" làm thành một quán ngữ là "trường sinh bất lão". Quán ngữ này nguyên là thuật ngữ từ các phương sĩ Trung Hoa thời xưa, trước cả Tần Thuỷ hoàng. Các phương sĩ này chuyên luyện đan để tìm ra thứ thuốc làm cho người ta "sống lâu không già", tất nhiên là về phần xác, kéo dài tuổi thọ của cuộc sống trần thế (tạm bợ) hiện tại. Nhưng ắt những phương sĩ ấy cũng biết rõ là ngay cả khi họ có tìm được thứ thuốc như thế, thì thuốc này cũng chỉ làm cho may ra sống lâu lâu thêm, chứ không làm cho "sống mãi không chết", do đó mà có "bất lão". "Bất lão" không có nghĩa là "bất tử". Mãi về sau này người ta mới đem ghép "bất tử" với "trường sinh" nên đã gây ra ngộ nhận. "Trường sinh" có thể dùng để dịch "longevity" trong tiếng Anh, chứ không thể dịch "eternal life".
Trong khi đó, 常 生 "thường sinh" có nghĩa là "sống mãi mãi". Nghĩa của chữ 常 "thường" trong "thường sinh" này tương tự "thường" trong : 道 可 道 非 常 道 [Đạo khả đạo phi thường đạo = Đạo mà có thể nói được không phải cái đạo mãi mãi] (Đạo đức kinh). "常 道" thường đạo nghĩa là cái đạo mãi mãi như thế, không suy suyển. Hoặc như "thường" trong 常在 "thường tại" (cứ có mãi), 常存 ”thường tồn" (cứ còn mãi)... Hoàn toàn không phải nghĩa của chữ "thường" trong "Mùa thường niên" !
Có thể xem :
Đại Nam Quấc âm tự vị 大 南 國 音 字 彙, của Huỳnh-tịnh Paulus Của, Saigon, 1896 :
- 常 thường : ... thường sinh, sống hoài, không hề chết ;
- 長 tràng / trường : [không có cả tràng / trường thọ lẫn tràng / trường sinh].
Dictionnaire annamite – français 大 南 國 音 漢 字 法 釋 集 成 [Đại Nam Quốc âm Hán tự Pháp thích tập thành = Tự điển Đại Nam – Pháp, có chú thích chữ Hán] của J. F. M. Génibrel, Imprimerie de la Mission à Tân Định, 1898 :
- thường 常 : ... thường sinh, immortel ; [ngoài ra còn có :] thường cửu, durer ; thường tồn, permanent ;
- tràng 長 (= trường) : (v. trường) : tràng thọ ; tràng sinh, longue vie, longue jours ; tràng trị, gouverner longtemps, régner de longues années ;
- trường 長 : ... trường thọ, longue vie ; [không có trường sinh, mà chỉ có 4 loại cây trường sinh] ...
Dictionnaire annamite – chinois – français [Tự điển Việt – Hoa – Pháp], của Gustave Hue, Imprimerie Trung Hoà, 1937 :
- thường 常 : ... thường sinh : immortalité ; thường tồn : durer, subsister ... ;
- tràng : trường à tous les sens ;
- trường 長 : ... trường mệnh : longévité ; trường sinh = trường mệnh ...
Cũng tham khảo thêm :
Lexicon Manuale Latino Sinicum 辣 丁 中 華 合 字 典 [Lạt-đinh Trung Hoa hợp từ điển = Từ điển Latin – Hán] của Joachim Alphonsus Gonsalves (Macau, 1839) :
- aeternus : 永 遠, 無 始 無 終 [vĩnh viễn, vô thỉ vô chung = mãi mãi, không bắt đầu, không cuối cùng]
- permaneo : 恒 在 ; 留 于 此 [hằng tại ; lưu vu thử = luôn mãi, cứ thế mãi]
- perpetuus : 常 在 ; 永 遠 ; 不 息 [thường tại ; vĩnh viễn ; bất tức = luôn mãi, mãi mãi, không dứt]
Hoặc :
天 主 教 英 漢 袖 珍 辭 典 [Thiên Chúa giáo Anh Hán tụ trân từ điển = Từ điển Công giáo Anh – Hán] do 主 徒 會 恒 毅 月 刊 社 [Chúa đồ hội Hằng Nghị nguyệt san xã] xuất bản :
- eternal life : 常 生 ; 永 生 ; 永 恒 的 生 命 : 人 死 後 要 永 遠 活 下 去, 不 再 死 亡 (若 三 15). 善 人 將 分 享 天 主 永 恒 的 生 命 [thường sinh ; vĩnh sinh ; vĩnh hằng đích sinh mệnh : nhân tử hậu yếu vĩnh viễn hoạt hạ khứ, bất tái tử vong (Nhược tam 15 = Jn 3:15). Thiện nhân tương phân hưởng Thiên Chúa vĩnh hằng đích sinh mệnh. = sống mãi mãi, sống đời đời, sự sống đời đời : người sau khi chết sẽ sống lại không chết nữa (Gioan 3:15). Kẻ lành được thông hưởng sự sống đời đời của Thiên Chúa.]
- eternity : 永 恒 ; 永 遠 : 指 無 終 止 的 生 命 在 同 一 時 候 完 全 存 在. 參 閱 eternal life [vĩnh hằng ; vĩnh viễn : chỉ vô chung chỉ đích sinh mệnh tại đồng nhất thì hậu hoàn toàn tồn tại. Tham duyệt eternal life. = mãi mãi, đời đời : chỉ sự sống không kết thúc mà luôn còn mãi. Xem thêm eternal life]
Khi người Công giáo Trung Hoa dịch các kinh nguyện từ các thứ tiếng châu Âu sang Hán ngữ, họ đã rất thận trọng trong việc dùng chữ, vì chính họ ý thức rất rõ về nghĩa chữ (chắc chắn là hơn chúng ta hiện nay nhiều). Để dịch "vita aeterna" của tiếng Latin mà tiếng Anh tương đương là "eternal life", thì 常 生 "thường sinh" là từ ngữ được dùng trước tiên chứ không phải là "trường sinh" (vả chăng đến tận bây giờ cũng không có bản dịch nào dù là Thánh Kinh hay các kinh nguyện khác của Kitô giáo – cả Công giáo cũng như Chính thống giáo, Tin Lành – bằng Hán ngữ lại dùng "trường sinh" với nghĩa của "thường sinh" nói trên ; trong thời buổi điện toán hiện nay, việc kiểm tra điều khẳng định này hoàn toàn không khó). Từ ngữ tương đương với "thường sinh" trong các kinh nguyện Hán ngữ là "hằng sinh", "vĩnh hằng đích sinh mệnh" như trong từ điển Hằng Nghị đã dẫn. "Thường" và "hằng" có nghĩa tương đương, đều có thể dịch sang tiếng Việt là "mãi mãi", "đời đời (kiếp kiếp)".
Tham khảo khác trong 俄汉东正教词汇词典 [Nga Hán Đông Chính giáo từ vựng từ điển = Từ điển Nga – Hán Chính thống giáo Đông phương] :
- Жизнь вечная 永生 yǒngshēng [vĩnh sinh] ; 永恆的生命 yǒnghéngde shēngmìng [vĩnh hằng đích sinh mệnh].
Từ ngữ "thường sinh" không chỉ có trong các kinh nguyện Công giáo của người Trung Hoa, nó cũng được người Công giáo Việt Nam sử dụng. Trong các kinh nguyện các địa phận miền Bắc có kinh 感 謝 念 詞 "Cảm tạ niệm từ" thường gọi là kinh 伏 已 "Phục dĩ" (vì bắt đầu bằng hai tiếng này), chẳng hạn. Kinh này được kết bằng :
春 臺 自 在 真 享 福 之 無 窮 ; 壽 域 逍 遙 信 常 生 之 有 永 "Xuân đài tự tại, chân hưởng phúc chi vô cùng ; Thọ vực tiêu dao, tín thường sinh chi hữu vĩnh", dịch sát nghĩa là : "Tự tại chốn đài xuân, thật là hưởng phúc không cùng ; Tiêu dao cõi thọ, tin rằng sống mãi đời đời".
Nếu cho rằng bản kinh "Phục dĩ" này đã được viết cách đây khoảng 3 thế kỉ, thì thấy được rằng "thường sinh" rõ là không xa lạ trong kinh nguyện Công giáo Việt Nam. Tuy thế, kinh này dù sao cũng hoàn toàn bằng chữ Nho. Vì thế có thể tham khảo các kinh nguyện Công giáo khác ở các địa phận miền Nam.
Đối với các địa phận miền Nam, các kinh nguyện cũ cho thấy "thường sinh" (có khi là "hằng sống" hoặc "sống vô cùng, sống đời đời"...) là từ ngữ rất quen thuộc. Thí dụ trong sách kinh nguyện trước kia vẫn dùng (cho giáo dân) có tên Thiên Chúa thánh giáo nhựt khoá tịnh Chúa nhựt pháp, vẫn quen gọi là "Sách Mục lục", thì "thường sinh" không chỉ xuất hiện một lần, và không phải trong các kinh nguyện Hán tự :
... ... ...
Đệ tam thiên – Tổng chư Thánh kinh
– Kinh Cầu Rất Thánh Trái Tim Đức Chúa Giêsu : ... R T T T Đ C G là mạch thường sinh và căn bổn mọi đức trọn lành ...
Đệ lục thiên – Trợ lâm tử – Đa vit thánh vương thống hối kinh (Septem Psalmi Poenitentiales)
– (kinh) Thứ năm : ... mà Chúa là Chúa thường sinh đời đời chẳng hết ... (Ps 102:28).
Đệ thất thiên – Đồng niên tổng kinh văn
II.- Ca hát mùa Chay :
4. Lời Chúa trối (Hỡi linh hồn tôi còn vui chi nữa) : ... Hầu sau tiêu sái hưởng phước thường sinh ...
III.- Ca hát mừng Phục sinh :
4. Mầng Chúa phục sinh : ... Ắt là có phước, lại đặng thường sinh ...
IV.- Ca hát Mình Thánh Chúa :
1. Ở núi thánh Xion : ... Là Bánh thường sinh rất nhiệm, lại làm cho đặng sống ngàn thu ... ... Xin cho thấy sự lành cực hảo : đất thường sinh, sản tích đa sung ...
2. Tôi kính lạy Chúa Giêsu : ... Nầy bánh hằng sống, xuống nuôi khắp hết mọi người ...
6. Ớ Bánh thường sinh : Ớ Bánh thường sinh, rất linh nghiệm và ngon ngọt mĩ vị ...
10. Ớ Tiệc thường sinh : Ớ Tiệc thường sinh, hiệu nghiệm và ngon ngọt mĩ vị ! Tiệc nầy chẳng phải là của thế gian, song thật bởi trời ban xuống, mà đưa chúng tôi lên cõi thọ miên trường ... ... Ớ Bánh thường sinh, tỏ lòng Chúa thương thiên hạ ...
VI. Ca hát về các Thánh :
5. Lễ các thánh Nam Nữ : ... Cõi thường sinh một tiệc vui vầy ...
Đệ bát thiên – Về phép Bí tích – 3.- Phép Thánh Thể – I.- Lễ Misa
– Bài đọc trước lễ Misa : ... và cho chúng ta đặng sống vô cùng ...
– Misa lễ tất : ... và lòng chuộng thường sinh chơn phước ...
Phần phụ thêm – Những kinh cầu đọc một hai khi
– Kinh cầu Mình Thánh Chúa : ... Ớ Bánh thường sinh bởi trời mà xuống ... ... Ớ thần lương hằng sống nuôi dưỡng linh hồn chúng tôi ...
Sau này các kinh nguyện trên dần dần không còn được đọc nữa, nên có nhiều người thậm chí còn chẳng hề biết rằng có những kinh nguyện như thế đã từng tồn tại ; ý nghĩa của các từ ngữ dùng trong các kinh nguyện ấy ngày càng trở nên khó hiểu, nhưng những người làm công tác dịch thuật thường chủ quan, ít để tâm (hay không có thời giờ ?) tra cứu ý nghĩa xác thực của các từ ngữ đem dùng (chưa kể có những người lại còn sửa chữa cho sai những chữ dùng đúng của nguyên bản khi phổ biến, mà lại đinh ninh rằng việc làm sai của mình là đúng !). Dẫu sao vẫn có người còn dùng những từ ngữ như "thường sinh", chẳng hạn cha An-sơn Vị với bản dịch Kinh Thánh Tân Ước (xem Tin Mừng Gioan, chương 4, 6, 7...).
Nay thử xem lại câu kinh trong bản gốc Kinh nguyện Thánh Thể II (Prex Eucharista II) của Sách lễ Rôma Latin :
105. ... Mémores ígitur mortis et resurrectiónis eius, tibi, Dómine, panem vitae et cálicem salútis offérimus ... (t. 582).
Panem (panis) vitae ở đây có xuất xứ từ đoạn 6 trong Tin Mừng Gioan, nhất là trong các câu :
Jn 6:35 : Dixit eis Iesus : Ego sum panis vitae. Qui venit ad me, non esuriet; et, qui credit in me, non sitiet umquam.
Jn 6:51 : Ego sum panis vivus, qui de caelo descendi. Si quis manducaverit ex hoc pane, vivet in aeternum; panis autem, quem ego dabo, caro mea est pro mundi vita
Có thể so sánh thêm các câu khác cũng trong Tin Mừng Gioan :
Jn 4:10 : Respondit Iesus et dixit ei : Si scires donum Dei, et quis est, qui dicit tibi : Da mihi bibere, tu forsitan petisses ab eo, et dedisset tibi aquam vivam.
Jn 6:68 : Respondit ei Simon Petrus : Domine, ad quem ibimus ? Verba vitae aeternae habes.
Jn 7:38 : qui credit in me. Sicut dixit Scriptura, flumina de ventre eius fluent aquae vivae.
Nhưng vốn panem (panis) vitae lại có xuất xứ từ câu Đức huấn ca 15:3 : cibabit illum panem vitae et intellectus ... (Bản Kinh Thánh Công giáo Hán ngữ Tư Cao dịch câu này là : 要用生命和明智的食物養育他 ... [Yếu dụng sinh mệnh hoà minh trí đích thực vật dưỡng dục tha... = Nuôi dưỡng nó bằng thức ăn sự sống và trí sáng ...] ; bản Hoà Hợp của Tin Lành không có sách này.)
Trong các câu trên, muốn nôm na dễ hiểu, thì chỉ cần dịch đơn giản là :
panis vitae = bánh sự sống (hoặc : bánh ban sự sống, hay nếu không muốn dịch panis theo nghĩa đen là bánh mà theo nghĩa tổng quát là lương thực [như trong Kinh Lạy Cha hiện nay], thì có thể dịch là : của ăn ban sự sống) ;
aqua vivae = nước sự sống (hoặc : nước ban sự sống) ;
verba vitae aeternae = lời hằng sống (hoặc : lời ban sự sống đời đời). "Hằng sống" cũng là chữ dùng của bản dịch Kinh Thánh Tin Lành mới (New Vietnamese Bible) trong các câu : Jn 6:35, 48, 51 (bánh hằng sống) và Jn 6:57 (Cha hằng sống)...
Các cách dịch trên (sự sống, ban sự sống, hằng sống) đã được dùng trong cũng quyển Sách lễ Rôma Việt ngữ 2005 trong Kinh nguyện Thánh Thể sử dụng trong các lễ "cầu cho những nhu cầu khác nhau" (Prex Eucharistica quae in missis pro variis necessitatibus adhiberi potest) :
I. Hội Thánh trên đường hợp nhất (Ecclesia in viam unitatis progrediens)
II. Thiên Chúa dẫn đưa Hội Thánh trên đường cứu độ (Deus Ecclesiam suam in viam salutis conducens)
III. Chúa Giêsu là đường dẫn đến Chúa Cha (Iesus via ad Patrem)
IV. Chúa Giê su đi khắp nơi ban phát ơn lành (Iesus pertransiens benefaciendo)
Câu kinh trong bản gốc Latin là :
... panem vitae et cálicem benedictiónis offérimus ... đã được dịch là : ... chúng con tiến dâng Cha bánh sự sống và chén phúc lành ...
Hoặc như Kinh nguyện Thánh Thể I còn gọi là Lễ quy Rôma (Prex Eucharistica I seu Canon Romanus) : offérimus praeclárae maiestáti tuae de tuis donis ac datis hóstiam puram, hóstiam sanctam, hóstiam immaculátam, Panem sanctum vitae aetérnae et Cálicem salútis perpétuae (Missale Romanum, 2002, tt. 576, 577)
được các bản Sách lễ Rôma tiếng Việt dịch sát nghĩa là :
Bản 1971 : ... chúng tôi lựa chọn trong những của Chúa đã ban mà dâng lên trước tôn nhan uy linh Chúa : lễ vật thanh khiết, lễ vật thánh thiện, lễ vật tinh tuyền, Bánh thánh ban sự sống vĩnh cửu và Chén cứu độ muôn đời.
Bản 1992 : (94) ... chúng con dâng lên Cha là Đấng uy linh cao cả : hy lễ tinh khiết vẹn tuyền, hy lễ vô cùng thánh thiện, là bánh thánh ban sự sống vĩnh cửu và chén đem lại ơn cứu độ muôn đời.
Bản 2005 (lấy lại bản dịch 1971) : ... chúng con lựa chọn trong những của Chúa đã ban mà dâng lên trước tôn nhan uy linh Chúa : lễ vật thanh khiết, lễ vật thánh thiện, lễ vật tinh tuyền, bánh thánh ban sự sống vĩnh cửu và chén cứu độ muôn đời.
Hoặc trong chỉ dẫn đầu sách nơi Quy chế tổng quát của Sách lễ Rôma (Institutio generalis Missalis Romani), Chương III – Những nhiệm vụ và thừa tác vụ trong Thánh Lễ (Caput III : De officiis et ministeriis in Missa), số 93 (bản Latin 2002 ; tuy nhiên bản dịch Sách lễ Rôma Việt ngữ không dịch lại Quy chế này, mà vẫn in lại bản dịch 1992, nên số tương ứng là 60) :
... fratribus suis panem vitae aeternae dat ;
được dịch là : ... ban cho anh em mình bánh hằng sống ... (bản dịch 1971),
hoặc : ... trao cho anh em mình bánh hằng sống ... (bản dịch 1992).
Cũng trong Quy chế tổng quát, số 56 (bản Latin), hướng dẫn về cách kết thúc lời nguyện (collecta) với công thức :
qui ... vivit et regnat ... per ómnia saecula saeculórum, hoặc : Qui vivis et regnas ... per ómnia saecula saeculórum,
bản dịch Việt ngữ 1971 (số 32) dịch là : Người / Chúa là Thiên Chúa hằng sống hằng trị... hoặc : Người / Chúa hằng sống hằng trị muôn đời.
Trong khi đó, bản 1992 dịch là :... hằng sống và hiển trị... (thêm hình dung từ "hiển" mà thực ra có cần thiết gì đâu !).
Kiểu nói "hằng sống hằng trị" này được dịch sang Hán ngữ cũng bằng 常生 "thường sinh" và thêm 常王 "thường vượng" (chữ 王 với chức năng động từ đọc là "vượng" nghĩa là thi hành vương quyền, cai trị) thành một quán ngữ trong kinh nguyện Công giáo Trung Hoa : 常生常王 "thường sinh thường vượng" như trong
天主聖教四字經文 [Thiên Chúa thánh giáo tứ tự kinh văn = Kinh văn bốn chữ (về) đạo thánh Đức Chúa Trời], ngay những câu đầu tiên : 全能天主, 萬有真原. 無始無終, 常生常王. 無所不在, 無所不知. 無所不能, 萬物之始 [Toàn năng Thiên Chúa, vạn hữu chân nguyên ; Vô thuỷ vô chung, thường sinh thường vượng. Vô sở bất tại, vô sở bất tri ; Vô sở bất năng, vạn vật chi thuỷ... dịch sát nghĩa là : Đức Chúa Trời toàn năng (mà trước kia ở Việt ngữ hay dịch là : phép tắc vô cùng), là nguồn thật muôn điều có ; không bắt đầu, không cuối, hằng sống hằng trị ; không chỗ nào không ở, không có gì không biết ; không có gì không thể, là đầu hết muôn vật...].
Bài kinh trên này – cũng có tuổi vào khoảng hơn 3 thế kỉ – được diễn ra Việt ngữ dưới thể văn vần lục bát, được dẫn lại trong Dictionarium anamitico-latinum 南越洋合字彙 Nam Việt Dương hiệp tự vị [Tự vựng Việt – Latin], Đức Giám mục Jean-Louis Taberd biên tập và xuất bản năm 1838, mà tác giả gọi là vãn : Đội ơn Chúa Cả Ba Ngôi, như sau :
Đội ơn Chúa Cả Ba Ngôi,
Dựng nên muôn vật cho tôi hưởng dùng.
Chúa là vô thỉ vô chung,
Thường sinh thường vượng, không cùng không sai.
Chúa là toàn đức toàn tài,
Suốt trong trời đất không ai ví tày...
Trở lại với câu kinh trong Kinh nguyện Thánh Thể II, kể ra thêm hình dung từ "hằng" như bản dịch 1971 :
... chúng tôi dâng lên Chúa bánh hằng sống và chén cứu độ để tạ ơn Chúa, vì Chúa đã thương cho chúng tôi được xứng đáng hầu cận trước nhan Chúa và phụng sự Chúa...
thôi thì cũng tạm được, bởi chữ "hằng" này không dùng để dịch chữ nào trong bản gốc Latin cả, nhưng tạm được vì ít ra "hằng sống" có nghĩa là "sống mãi mãi", "sống đời đời". Nhưng các bản dịch về sau lại dùng "trường sinh" (có nghĩa là "sống dài dài", "sống lâu") để dịch mỗi chữ "vitae", thậm chí khi có hình dung từ aeternus, thì vẫn hoàn toàn không ổn :
Bản 1992 : (107) ... chúng con dâng lên Cha bánh trường sinh và chén cứu độ này, để tạ ơn Cha đã cho chúng con được đến trước Tôn Nhan và tế lễ phụng thờ...
Bản 2005 : (105) ... chúng con dâng lên Chúa bánh trường sinh và chén cứu độ để tạ ơn Chúa, vì Chúa đã thương cho chúng con được xứng đáng hầu cận trước Tôn Nhan và phụng sự Chúa...
Tham khảo bản văn phụng vụ bằng Hán ngữ : 上主,因此我們紀念基督的聖死與復活, 向您奉獻生命之糧, 救恩之杯, 感謝您使我們得在您台前, 侍奉您. [Thượng Chúa, nhân thử ngã môn kỉ niệm Cơ-đốc đích thánh tử dữ phục hoạt, hướng Nễ phụng hiến sinh mệnh chi lương, cứu ân chi bôi, cảm tạ Nễ sử ngã môn đắc tại Nễ đài tiền, thị phụng Nễ].
Hoặc như trong Kinh Tiền tụng Chúa Nhật thường niên II (Praefatio II de Dominicis "per annum") nguyên câu kinh trong bản gốc Latin :
... Qui, crucem passus, a perpétua morte nos liberávit et, a mórtuis resúrgens, vitam nobis donávit aetérnam
được dịch sang Việt ngữ trong các bản :
Bản 2005 : ... và từ cõi chết sống lại, Người đã ban cho chúng con được hưởng phúc trường sinh...
Bản 1992 cũng tương tự : ... và từ cõi chết sống lại, Người đã ban cho chúng con được hưởng phúc trường sinh...
Trong khi bản dịch 1971 là : ... và từ cõi chết sống lại, Người đã ban cho chúng tôi sự sống muôn đời...
Tham khảo bản văn phụng vụ bằng Hán ngữ : (常年主日頌謝詞之二 :) ... 基督 ... 又從死者中復活, 賜給我們永生. [(Thường niên Chúa nhật Tụng tạ từ chi nhị :) ... Cơ-đốc ... hựu tùng tử giả trung phục hoạt, tứ cấp ngã môn vĩnh sinh].
Đức tin Công giáo dạy ta biết "Bánh" (và "Rượu") nói đến trong các câu kinh đã dẫn chính là Mình (và Máu) Chúa Kitô như trong kinh Lauda Sion : Dogma datur christianis, quod in carnem transit panis, et vinum in sanguinem, "hình bánh" (và "hình rượu") bên ngoài là những điều giác quan của con người vật chất nhận biết được (Sub diversis speciebus, signis tantum, et non rebus, latent res eximiae, Lauda Sion), trong khi "Bánh" (và "Rượu") đó chính là lương thực của các thiên thần, ban cho kẻ nhận lãnh có được sự sống đời đời về phần hồn sau khi thân xác này đã chết đi, và đến ngày tận thế là cả xác sẽ sống lại và sống đời đời, chứ không phải chỉ là sự sống lâu dài, sự trường thọ ở đời này theo nghĩa của "trường sinh", dù có như Mathusala được nói đến trong Kinh Thánh, thọ tới 969 tuổi (gần được thiên thu !) rồi cũng phải chết : Et facti sunt omnes dies Mathusalae nongenti sexaginta novem anni, et mortuus est (Gen 5:27).
Chúa Kitô không hứa ban cho kẻ rước Mình Máu Người một cuộc sống lâu dài ở đời này. Trong các đấng Thánh (của thời Tân Ước), rõ ràng không vị nào lại không từng rước Mình Máu Chúa, thế mà hình như không có mấy vị sống lâu, xem lại tiểu sử các ngài, thì số những vị từ bảy mươi, tám mươi tuổi trở lên dường như quá ít ỏi. Chính Chúa Kitô là Thiên Chúa hằng sống, và khẳng định Người là sự sống lại và là sự sống ; nhưng khi còn ở trần thế trong bản tính con người, Người cũng đã chết khi không thể gọi là ... thọ, chỉ mới có ba mươi ba tuổi ! Thế mà nay "bánh", "nước", hoặc "lời" được dùng với "trường sinh" như vậy, thì thật chẳng khác nào bánh đó, nước đó là một thứ đan dược, và lời đó hoá nên như một thứ phù chú tương tự của các phương sĩ, ăn uống vào hay đọc lên hòng cho được kéo dài tuổi thọ (ở đời này về phần xác mà chưa chắc đã bất tử).
BÙI NGỌC HIỂN
Những Chuyện Chữ Nghĩa khác :
Thứ Ba, 7 tháng 4, 2015
MỘT DƯỢC HAY MỘC DƯỢC ?
MỘT DƯỢC HAY MỘC DƯỢC ?
BÙI NGỌC HIỂN
Trong Kinh Thánh Tân Ước,
thánh Mat-thêu thuật lại : Đức Giê-su sinh ra tại Bê-lem xứ Giu-đê, thời vua
Hê-rô-đê, thì này : những đạo sĩ từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem nói :
"Vua dân Do-thái mới sinh hiện ở đâu ? Vì chúng tôi đã thấy ngôi sao của
Ngài bên trời Đông, và chúng tôi đến bái yết Ngài." ... Thấy ngôi sao, họ
hớn hở vui mừng quá đỗi. Và vào nhà, họ thấy Hài nhi cùng Ma-ri-a mẹ Ngài, và họ
sấp mình xuống bái yết Ngài ; đoạn mở tráp báu, họ dâng Ngài lễ vật : vàng, nhũ
hương và một dược. (Mt 2:1-2,10-11)
Vàng (Latin : aurum ; Hi-lạp : χρυσός
[khrysos] ; Anh : gold) là một trong những quý kim thượng hạng,
tượng trưng cho thần tính Thiên Chúa trong xác phàm. Nhũ hương (L. : tus
; H. : λιβάνι [libani] ; A. : frankincense) là một loại nhựa
cây được chế biến dùng cho việc làm hương đốt, tượng trưng cho sự thánh thiện
và công chính, ở đây mang nghĩa tiên báo việc Hài nhi Giê-su sẽ trở thành lễ
toàn thiêu. Một dược (L. myrrha ; H. : σμύρνα [smyrna]
; A. : myrrh) cũng là một loại nhựa cây có mùi thơm, vị đắng, dùng làm chất
giảm đau, thuốc ướp xác..., tượng trưng nhân tính của Hài nhi Giê-su, cũng mang
nghĩa tiên báo việc Hài nhi Giê-su sau sẽ phải chịu tử nạn, chịu táng trong mồ...
Các danh từ vàng, nhũ
hương đều không có sự lầm lẫn nào trong các bản văn tiếng Việt, nhưng từ một
dược lại có nhiều điều đáng nói. Từ này trong KT L, bản Nova Vulgata
là myrrha, xuất hiện trong Cựu Ước 13 lần, trong đó riêng Nhã ca (Diệu
ca..., L. : Canticum Canticorum) xuất hiện 8 lần (các câu : Ex
30:23, Esth 2:12, Ps 45:9 (bản LXX là 44:9, bản Tin
Lành là 45:8), Prov 7:17, Cant 1:13, 3:6, 4:6,
4:14, 5:1, 5:5 (xuất hiện 2 lần trong cùng một câu), 5:13, Eccles 24:20 (bản LXX là 24:15) ; trong Tân Ước 3 lần (các câu : Mt
2:11, Mc 15:23, Jn 19:39). Hầu hết các trường hợp
xuất hiện trong Cựu Ước đều được bản LXX dịch sang tiếng Hi-lạp bằng σμύρνα, trừ hai chỗ là câu Prov
7:17 dịch bằng ἄρωμα [arōma]
và câu Cant 1:13 dịch bằng στακτή [staktē].
Các bản KT bằng Hoa ngữ (cả
Công giáo như 思高本 [Tư Cao bản] (1) và Tin Lành như 和合本修訂版[Hoà Hiệp bản tu đính bản]) đều dịch thống nhất các danh từ ở vị trí
tương ứng với myrrha trong các câu KT dẫn trên bằng 沒藥 (phồn thể) hoặc没药 (giản thể). Dù là phồn thể hay giản thể, thì
chúng đều chỉ được đọc với âm Hán – Việt là một dược. (2)
Trước n 1971, các sách của
Giáo hội Công giáo tại Việt Nam đều in đúng là một dược. Có thể kể trước
tiên là quyển Thiên Chúa thánh giáo nhựt khoá tịnh Chúa Nhựt pháp [= Kinh
đọc thường ngày và Chúa Nhật của đạo thánh Đức Chúa Trời], thường gọi thông
dụng là Sách Mục Lục, do nhà in Mission tại Tân Định, Saigon, in
vào khoảng những năm 1930 (3), ở Đệ thất thiên : Đồng niên tổng Kinh văn
[= Thiên thứ 7 : Gom chung các Kinh quanh năm], mục I. Ca hát trong
mùa Sinh nhựt, có hai bài : bài 10. Lễ Ba Vua : Tam Vương triều thị Cứu
thế [= Ba Vua chầu xem Đấng Cứu thế], và bài 11. Lễ Ba Vua : Tam
Vương lai trào [= Ba Vua đến chầu] đều dùng từ một dược (4).
Các sách khác như : Bản
dịch KT Tân Ước của linh mục Nguyễn Thế Thuấn (bản in năm 1965). Bản
này cũng đã có vấn đề. Theo linh mục NTT thì phải in là một dược, nhưng
nhà in đã sửa (5) thành mộc dược ở trang 448 (câu Jn 19:39
; hai chỗ còn lại là Mt 2:11 và Mc 15:23 vẫn in một
dược). Chỗ sửa đúng thành sai này đã được điều chỉnh ở phần đính
chính, trang 12* cuối sách (phần đính chính này dài tới 31 trang). Không
riêng chữ một dược bị sửa thành mộc dược, những người lo liệu việc
in ấn và xuất bản còn sửa từ ngữ của linh mục NTT rất nhiều chỗ, khiến ngài phải
lên tiếng trong một bài viết đăng trên nguyệt san ĐMHCG lúc bấy giờ. Sau khi
linh mục qua đời, toàn bộ bản dịch KT Cựu – Tân Ước của ngài được Dòng
Chúa Cứu Thế đem in tại Nhà in ĐMHCG và xuất bản cuối năm 1976. Trong Lời
nói đầu của bản in này, ban Xuất bản cho biết họ đã "... thay
thế một ít tiếng không quan trọng..." (sic). Và một trong số một ít
tiếng không quan trọng đó hẳn là tất cả các chữ một dược đều được in
thành mộc dược (phần Cựu Ước, các trang 184, 1109, 1380, 1523,
1588, 1591, 1593 [2 lần], 1594 [2 lần] ; phần Tân Ước, tt. 15, 117, 249). Trước đó, bản dịch Sách Lễ của
NXB Hiện Tại (bản dành cho giáo dân, tái bản lần thứ năm, năm 1969), t. 60,
trong bài Phúc âm nói về việc ba hiền sĩ phương Đông đến kính bái Hài nhi
Giê-su cũng in một dược (6). Bản dịch KT Cựu – Tân Ước của linh
mục Trần Đức Huân do Thánh Kinh thiện bản xuất bản năm 1971 cũng in nhất loạt
là một dược. Bên Tin Lành, bản Kinh Thánh (xuất bản lần đầu năm
1926 – ở đây căn cứ vào bản được Thánh Kinh Công hội in lại n 1966), trừ
câu trong sách Ecclesiasticus (không có trong các sách KT Tin Lành), 15
chỗ còn lại đều được dịch và in rất chuẩn là một dược. Bản dịch mới (E :
New Vietnamese Bible) cũng dùng một dược trong 15 chỗ như bản
1966.
Khi xuất hiện các bản dịch
Sách Lễ (SL) tiếng Việt do Uỷ ban Giám mục về Phụng vụ xuất bản từ
1969 đến 1971, đều chỉ gặp thấy mộc dược mà không hề thấy một dược,
như SL Mùa Vọng và mùa Giáng Sinh, 1969, t 208 (2 lần), SL Mùa
Chay và mùa Phục Sinh, 1970, tt. 148, 180, SL Roma, 1971, t.
186. Sau này Uỷ ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam xuất
bản SL Rô-ma vào năm 1992, cũng thấy dạng mộc dược (t. 170).
Năm
1983, Lm An-sơn Vị, dòng Anh Em Đức Mẹ Người Nghèo, xuất bản Thánh
Kinh Tân Ước, Tin Mừng về Chúa Cha, ấn bản toàn thư. Đây là bản dịch được dịch
giả sử dụng rất nhiều tiếng Hán – Việt, cả những từ khá quen (nhưng ít dùng, và
có lẽ không gặp thấy trong các bản dịch khác), như : Đạo Ngôn, trang 13,
[... đừng sợ rước Bà Ma-ri-a,] Hiền thê [ông...] (Mt
1:20), Vườn Diệu quang (Apoc 2:7), Chúa Cửu Trùng (Apoc
4:7), Hiền Phụ, Thần Linh Hiếu Tử, t. 124..., hoặc những từ đơn có sẵn để
ghép với nhau đặt ra những từ mới thay cho những từ đã quen, chẳng hạn : Thiên
Phụ (Mt 3:16), Huyền Thê (Apoc 22:17), Huyền
Phu, trang 23, Đấng Thụ Hấn (= Đấng chịu xức dầu, Đức Mê-xi-a
; sic., t. 98), Toàn Ái, trang 34G,... Thế nhưng bản dịch này cũng dùng mộc
dược trong cả 3 câu Mt 2:11 ; Mc 15:23 và Jn
19:39.
Năm
1998, Nhóm Phiên dịch các Giờ Kinh Phụng Vụ (7) xuất bản KT trọn bộ Cựu
Ước và Tân Ước (không chú thích) cũng dùng nhất loạt từ mộc dược cho
16 chỗ đã dẫn (8). Hình như các dịch giả có hứa hẹn sẽ xem xét lại việc dùng một
dược / mộc dược từ khoảng cuối năm 2000. Thế nhưng khi xuất bản Kinh
Thánh ấn bản 2011, ấn bản kỷ niệm 40 năm hiện diện của nhóm, 16 chữ mộc
dược cứ nghiễm nhiên tồn tại (9) !
Cả
trong Từ điển Công giáo Anh – Việt của Nguyễn Đình Diễn (n 2002),
mục từ myrrh cũng dịch là mộc dược ! Trong khi đó, linh mục Trần
Văn Kiệm, tác giả quyển Giúp đọc Nôm và Hán Việt (n 1999), trong bản
dịch KT Tân Ước của mình đều dùng một dược tại cả ba câu Tân Ước
đã dẫn.
Nếu xem xét trong các từ
điển, thì ngay từ năm 1839, Joachim Alphonsus Gonsales trong Lexicon
Manuale Latino-Sinicum [= Thủ bản từ vựng Latin – Hán] đã dịch myrrha
là 沒藥香 [một dược hương]. Năm 2002, trong
quyển từ điển Công giáo tiếng Hoa là 天主教英漢袖珍辭典
[Thiên Chúa giáo Anh Hán tụ trân từ điển] do 主徒會恒毅月刊社 [Chúa đồ hội Hằng Nghị nguyệt san xã] xuất
bản, dịch mục từ myrrh : 沒藥 : 新約中東方賢士所獻給耶穌的三禮之一 [một dược, Tân Ước trung Đông phương hiền sĩ sở
hiến cấp Da-tô đích tam lễ chi nhất = một dược, một trong ba lễ vật các
hiền sĩ Đông phương dâng lên Chúa Giê-su trong Tân Ước]. Lại 古希腊语汉语词典 Cổ Hi-lạp ngữ Hán ngữ từ điển, 罗念生,水建馥编 La Niệm Sinh, Thuỷ Kiến Phức biên, 商务印书馆 Thương Vụ ấn thư quán, 北京 Bắc Kinh 2004, mục từ σμύρνα cũng dùng một dược để dịch,
không những thế còn mở ngoặc ghi chú thêm dạng Hi-lạp thứ hai là μύρρα [myrr(h)a]. Gần đây hơn cả,
trong Encyclopedia of Traditional Chinese Medicines [= Bách khoa dược
liệu Trung Hoa truyền thống] của các tác giả Jiaju Zhou, Guirong Xie
và Xinjian Yan, 2011, chỉ có hai dược liệu mà thành tố đầu có âm Hán –
Việt là một, đó là : một thực tử 没食子 (mo shi zi) và một dược 没药 (mo yao ; tất cả các tên đều có in
kèm tên tiếng Anh tương ứng, với từ một dược này là myrrha),
trong khi có tới 28 dược liệu có thành tố đầu có âm Hán – Việt mộc,
nhưng chẳng hề có dược liệu nào là mộc dược (10).
Qua phân tích trên, có lẽ sự
sai sót trên là do những người chấp bút chủ quan, nghĩ rằng đã dùng một từ ngữ
"quen thuộc" như thế, thì chẳng cần tra cứu lại làm gì. Vấn đề là khi
có góp ý, thì
lại chủ quan thêm một lần nữa (hay cho rằng đó chỉ là tiểu tiết ?), nên vẫn chẳng
cần tra cứu để xác định đúng sai (hay cho rằng sao có lắm kẻ ưa "bới lông
tìm vết ?).
Gần
đây, linh mục Huỳnh Trụ có lên tiếng về hai tiếng một dược và mộc dược
này, và cho biết nếu là mộc dược với mặt chữ Hán là 沐藥 thì cũng có
nghĩa (là thuốc dùng để tắm). Nhưng đây không phải là chữ sẵn để
có thể xuất hiện như một mục từ riêng biệt trong từ điển ; hơn nữa với nghĩa
như thế thì rõ ràng không phải nghĩa của myrrha trong Latin ! Tuy nhiên
ngài vẫn đề nghị nên đổi mộc dược thành một dược cho đúng. Có ý
kiến dễ dãi cho rằng nếu cả hai từ đều có nghĩa thì dùng từ nào cũng được, sửa
đổi chi cho mệt, thêm rắc rối. Thực chất vấn đề không phải là từ nào cũng có
nghĩa thì dùng từ nào cũng được. Nếu cũng được thì còn phải sửa đổi "bản
tính" thành 'bản thể", "cùng được phụng thờ và tôn
vinh..." thành "được phụng thờ và tôn vinh cùng với..."
(vì "cùng" ở câu trên thường bị đọc sai thành "cũng")
như trong Kinh Tin Kính đọc trong các Thánh Lễ làm chi ! Vấn đề là như
Mt 5:37 : ναὶ ναί, οὒ οὔ· [Hi-lạp ; Có (thì nói là) có, không (thì nói là) không (xin
không dám dẫn thêm phần sau của câu Kinh Thánh này, vì sợ quá !)]. Chỉ có một
dược mà không hề có mộc dược để dịch myrrha (của Latin), thì tại sao
cứ cố chấp dùng cái không có thay cho cái có ?
Chú thích :
(1) Bản Tư Cao này câu Ex 30:23 lặp hai lần chữ một
dược : 你要拿上等的香料:純正沒藥五百「協刻耳,」香肉桂為沒藥的一半,即二百五十「協刻耳,」香菖蒲二百五十「協刻耳,」: nễ yêu nã thượng đẳng đích hương liệu : thuần chính một dược ngũ bách
"hiệp-khắc-nhĩ", hương nhục quế vi một dược đích nhất bán, tức nhị
bách ngũ thập "hiệp-khắc-nhĩ", hương xương bồ nhị bách ngũ thập
"hiệp-khắc-nhĩ" = dịch sát nghĩa là : ngươi hãy lo lấy được các hương liệu thượng đẳng : một
dược ròng năm trăm se-kel, hương nhục quế bằng nửa một dược, tức hai trăm năm
mươi se-kel, hương xương bồ hai trăm năm mươi se-kel.
(2) Chữ 沒/没 (một) có thể tra cách đọc Hán – Việt trong các từ điển : Đại Nam
Quấc âm tự vị, Huình-Tịnh Paulus Của, Saigon, 1896, Tome II, trang 51 ; Hán
Việt từ điển giản yếu, Đào Duy Anh, 1931 ; Việt Nam tự điển, Hội
Khai Trí Tiến Đức, Hà Nôi, 1931, trang 350 ; Hán Việt tự điển, Thiều Chửu,
Đuốc Tuệ, 1942, trang 335 ; Dictionnaire Annamite – Chinois – Français, Gustave Hue, Trung Hoà, 1937 trang 580 ; Giúp
đọc Nôm và Hán – Việt, L.m. Anthony Trần Văn Kiệm, Huế, 1999, trang 633...
(3) Đây là một quyển sách Kinh rất hay, sau này được in lại nhiều lần, trước
1975 in typo, sau này in lại bằng chế bản từ bản đánh máy vi tính. Càng về sau,
các bản in càng có nhiều sai lỗi, do người sắp chữ hoặc người đánh máy vi tính không
thạo tiếng Việt (thật đáng buồn thay ! Trong một bài khác sẽ xin bàn
thêm về quyển Kinh). Dẫu vậy, riêng từ một dược thì lại không hề thay đổi
từ những bản in cũ nhất cho đến những bản in gần đây nhất.
(4) Bài 10. Tam Vương triều thị Cứu thế : ... Nay nước mọn ba tôi, /
Lễ đơn ba giống :/ Vàng cùng nhũ hương, / Một dược dưng hầu Chúa.... Bài
11. Tam Vương lai trào : ... Lễ mọn chút vàng nầy, / Cùng nhũ hương một
dược, / Ba tôi dưng kính / Lạy Chúa nhậm lòng...
(5) Hay sắp chữ sai do phát âm địa phương, hay do chủ quan, thiên kiến ?
(6) Câu Mc 15:23 (trong bài Thương Khó đọc trong Thứ
Ba Tuần Thánh theo Sách Lễ Rô-ma cũ trước Công đồng Vatican II) được dịch là :
... Chúng cho Người uống rượu pha mật...(t. 274), câu Jn
19:39 (Thứ Sáu Tuần Thánh, t. 310) dịch là : ... Ông mang một bình trộn dầu và thuốc
thơm...
(7) Căn cứ Lời Giới thiệu của Đức Tổng Giám mục Phạm Minh Mẫn,
còn các dịch giả gồm 14 người được ghi tên đầy đủ, chứ không dùng danh xưng
chung là NPDCGKPV như trong bản KT Tân Ước, khổ nhỏ, không chú
thích, n 1995.
(8) Các trang 162, 854, 1059, 1175, 1232, 1234, 1235 [2 lần], 1236 [2 lần],
1237, 1316, 1848, 1933 và 2038.
(9) Các trang 170, 927, 1168, 1293, 1369, 1373, 1374, 1375 (2 lần, câu Cant
4:14 và 5:1), 1376 (cũng xuất hiện 2 lần trong cùng câu này), 1377, 1477 (câu Eccles 24:15, theo bản LXX), 2127, 2246 và 2369.
(10) Tên Hán Việt (cùng với mặt chữ Hán và cách phát âm "phổ thông"
trong tiếng Hoa) của 28 dược liệu đó là : 1. mộc biện thụ 木瓣树 mu ban shu, 2. mộc miết căn 木鳖根 mu bie gen, 3. mộc miết tử 木鳖子 mu bie zi, 4. mộc sài hồ 木柴胡 mu chai hu. 5. mộc nhĩ 木耳 mu er, 6. mộc phòng kỉ 木防己 mu fang ji, 7. mộc phù dung hoa 木芙蓉花 mu fu rong hua, 8. mộc qua 木瓜 mu gua, 9. mộc hồ điệp 木蝴蝶 mu hu die, 10. mộc hồ điệp thụ bì 木蝴蝶树皮 mu hu die shu pi, 11. mộc cận hoa 木槿花 mu jin hua, 12. mộc cận bì 木槿皮 mu jin pi, 13. mộc cận tử 木槿子 mu jin zi, 14. mộc quất 木橘 mu ju, 15. mộc lãm 木榄 mu lan, 16. mộc lam 木蓝 mu lan, 17. mộc lê lô 木藜芦 mu li lu, 18. mộc ma hoàng 木麻黄 mu ma huang, 19. mộc miên hoa 木棉花 mu mian hua, 20. mộc thự (địa thượng bộ phận) 木薯(地上部分) mu shu (di shang bu fen), 21. mộc đề tằng
khổng khuẩn 木蹄层孔菌 mu ti ceng kong jun, 22. mộc thiên liệu 木天蓼 mu tian liao, 23. mộc thông 木通 mu tong, 24. mộc thông căn 木通根 mu tong gen, 25. mộc đồng hao 木茼蒿 mu tong hao, 26. mộc hương 木香 mu xiang, 27. mộc tặc 木贼 mu zei, 28. mộc tặc ma hoàng 木贼麻黄 mu zei ma huang.
Những Chuyện Chữ Nghĩa khác :
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)