Thứ Năm, 14 tháng 11, 2013

THÂN PHỤ THÁNH TÊ RÊ SA HÀI ĐỒNG (TIẾP)

     Đức nhẫn nại của cha tôi thật là kiên nghị. Lần kia người đi đòi tiền thuê nhà, thì có một mụ đàn bà chạy theo chửi bới thậm tệ, tôi rất tức giận, còn cha tôi bình tĩnh, không nói lấy nửa lời, mà về sau cũng không phiền trách chị ấy.
     Còn đức tự chủ của người, tôi có nhiều dịp chứng kiến và chịu phục thôi, mặc dù người vốn nóng tính.
     Trong dịp đi viếng Roma, nhiều lần người thi hành đức bác ái cách anh hùng. Người tha thứ và nhịn nhục cử chỉ kẻ khác, lại tìm cách làm cho họ được vui. Người không phàn nàn gì cả, trái lại, như lời em Têrêsa đã thuật, người còn an ủi một ông lão có vẻ buồn chán, mỗi chút mỗi cằn nhằn.
     Tôi khen người, khi ở toa xe lửa, hành khách mời chúng tôi đánh bài, người đã khéo kiếu từ thay chúng tôi. Chúng tôi còn trẻ, thích xem phong cảnh hơn, người ủng hộ chúng tôi về mặt đó rất đúng.
     Lúc cuộc chơi có vẻ ồn ào, không thể đọc kinh được, thì người nhã nhặn bày tỏ ý kiến. Một người trong bọn ấy lấy làm khó chịu nên mỉa mai : "May phước bọn Pharisêu cũng ít !" - Cha tôi nhắm mắt lại, không nói chi, giả bộ như không nghe gì cả. Sau đó người lại tỏ vẻ thân mật với người ấy, như lời em Têrêsa đã viết : "Theo gương thánh Phanxicô Salêsiô, cha tôi đã hãm dẹp được tính nóng nảy tự nhiên, đến đỗi xem ra người hiền lành nhất trên đời".

HÃM MÌNH VÀ KHIÊM NHƯỢNG

     Tinh thần hãm mình của cha tôi lan rộng trong mọi lãnh vực.
     Khi đến ở Lisieux, vấn đề bánh mì rất phiền phức, trái với lệ thói chúng tôi quen sống ở Alençon. Lisieux chúng tôi có hai thứ bánh : một thứ mềm, một thứ cứng như đá. Đầu tiên các chị tôi dọn cho người thứ bánh mềm. Được một ít lâu thì người lại muốn ăn bánh cứng, vì như thế thì có dịp hãm mình, và lại là thứ bánh của người nghèo.
     Không bao giờ người tỏ ý gì về những món ăn đã dọn cho người, và cũng không tỏ ý thích món nào hơn.
     Người hay quên hẳn mình đi, và tôi tưởng nếu ở một mình chắc người không nấu gì ăn cả, chỉ dùng chút ít thịt nguội và bánh sữa (fromage) thôi.
     Ở Buissonnets dù không thích làm vườn, người cũng xem đó là một việc bổn phận. Mùa hè chúng tôi đem cho người thức chi giải khát thì người uống, nhưng không bao giờ đòi. Nếu nhằm mùa chay cả, chúng tôi lại phải trổ tài hùng biện, quả quyết với người uống một chút không phá chay, và chính Chúa gửi đến, thì người mới chịu dùng.
     Hằng năm, chiều thứ sáu Tuần Thánh, người không ăn gì hết.
     Không thấy người hút thuốc như cậu Gu é rin, chúng tôi hỏi : "Sao cha không hút thuốc như người ta ?" - Người mỉm cười đáp lại : "Phải hãm mình một chút chớ !"
     Không khi nào người ngồi tréo chân hay cách nào cho dễ chịu để hãm mình, nhưng không có gì kiểu cách trong cử chỉ, lệ thói của người.
     Về việc dự lễ, khi nào đi một mình thì người luôn chọn lễ nhất 6 giờ. Chúng tôi hỏi tại sao, thì người trả lời : Vì là lễ của người nghèo và người lao động.
     Cũng vì lẽ đó mà khi đi đâu thì người cũng mua vé hạng ba, vì hạng này ít tiện nghi hơn. Đối với cha tôi cái gì cũng tốt cả, tôi nhớ : không hề nghe người phàn nàn về một điều gì mà người cho là bất mãn.
     Chúng tôi cũng mến phục mẹ chúng tôi vì có đức tính xả kỷ như cha tôi. Biết bao lần tôi thấy người, không những cẩn thận, lại còn tìm cách dọn bữa lót lòng sáng cho gia đình được ngon miệng, còn người thì đành lén đứng ăn một chút cháo xoàng thôi.
     Cha tôi càng cao tuổi thì khuynh hướng hãm mình và khiêm nhượng càng tăng tiến. Chi Marie phải rán hạn chế việc người ép xác. Một hôm, chị Marie phải lén giấu quyển sách "Hạnh các đấng khổ tu nơi sa mạc" khi trước chị vô tình cho mượn, người đọc rồi muốn thực hành theo gương ấy.


     (Còn tiếp)

   

Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2013

THÂN PHỤ THÁNH TÊRÊSA GIÊSU HÀI ĐỒNG (tiếp)

THÂN PHỤ THÁNH TÊRÊSA GIÊSU HÀI ĐỒNG (tiếp)

     Rồi khi trường hợp đưa đến những phạm vi hoạt động khác thì tính can đảm lại biến thành bác ái.

     Tại Alençon, tôi đã được chứng kiến nhiều điều mà mẹ tôi đã san sớt phàn vinh hạnh và công nghiệp của cha tôi trong việc thiện. Tôi còn nhớ một người bất hạnh, kiệt sức nằm ngoài đường, được cha mẹ tôi đem về nhà nuôi dưỡng rất hậu, lại cho quần áo, giày vớ. Khi thử áo, thử giày, gương mặt người ấy tươi sáng lên một niềm hạnh phúc, mặc dầu hồi ấy tôi chỉ được bảy tuổi, nhưng hình ảnh đó hiện giờ như còn trước mắt tôi.

     Qua một thời gian, cha tôi điều tra biết được người ấy cô độc, ở nhờ trong một xó vựa lúa và ăn mày theo cửa trại lính. Cha tôi liền vận động ráo riết cho người ấy được vào viện Tế bần (1) của các bà chuyên việc nuôi kẻ nghèo.

     Nhiều người nghèo túng được cha tôi giúp đỡ như vậy. Cũng có một gia đình thuộc phái trung lưu, cha tôi để ý thấy một người buồn bực đứng dựa vào song sắt trụ sở quận, hình như quẫn bách lắm. Người liền liệu giải quyết ngay những khẩn thiết cấp thời, lại còn tìm cho người chủ gia đình ấy một chỗ làm xứng đáng.

     Cha mẹ chúng tôi đều rất rộng rãi. Không những hi sinh nghỉ ngơi để an ủi, nâng đỡ những người xấu số, mà còn giúp bề tài chánh. Đi đường, lúc nào cha tôi cũng sẵn tiền, hễ gặp kẻ khó là bố thí.

     Cha mẹ tôi cũng âu yếm săn sóc đến những người thợ làm công trong nhà, đối xử với họ tử tế. Những chị thợ làm ren ở Alençon cũng vậy, cha mẹ tôi năng đến thăm, và khi thấy họ thiếu thốn vật chi thì không chịu được.

     Nếu đi đâu gặp người say rượu, cha tôi liền dẫn họ về nhà, nhưng cũng không quên kèm theo cử chỉ bác ái đó một vài lời khuyến miễn. Một lần kia có anh chàng say nhào xuống suối, người đỡ dậy, lại còn xách giùm cái hộp đồ nghề của anh và đưa anh về tận nhà.

     Một trường hợp khác ở ga xe lửa, cha tôi thấy một người bị bịnh động kinh không tiền mua vé xe, người liền ngửa nón xin tiền hành khách để mua vé, và đỡ người ấy lên toa xe.

     Tôi còn được biết một cử chỉ bác ái kín đáo sau này làm tôi rất cảm động : chúng tôi ra đồng dạo chơi, vừa ra khỏi châu thành thì cha tôi vào một căn nhà, chúng tôi không biết của ai, nhưng hình như cha tôi quen thuộc. Trong nhà chỉ có một phụ nữ và mấy đứa con. Cha tôi cho người mẹ gia đình đó một số tiền. Bỡ ngỡ, tôi hỏi : "Thưa cha, cha quen chị đó sao ?" - Người trả lời : "Phải, chị này đáng thương lắm, con, vì chồng chị bỏ chị đã lâu nên thỉnh thoảng cha quen đến giúp."

     Người không thể thấy cảnh khổ mà không an ủi giúp đỡ. Một buổi mai kia, ở nhà thờ, người gặp một ông lão có vẻ kiệt sức, người liền dẫn về Buissonnets săn sóc. Khi ra đi, ông tỏ vẻ biết ơn, thì cha tôi lại bảo chúng tôi - Têrêsa và tôi - quỳ xuống dưới chân ông lão để xin ông chúc lành. Lúc đó chúng tôi đã lớn, các chị chúng tôi đã vào nhà phước cả rồi.




     Đức bác ái của cha tôi còn rực rỡ trong một đặc điểm khác ; sau khi [cha tôi] qua đời nghe lời người ta nói sau đây thì đủ rõ : "Đức bác ái của ông Martin rất đáng phục, không khi nào ông xét đoán ai, và luôn luôn chữa lỗi cho người khác." - Lời khen tặng thành thực này là của các ông bạn thâm niên của người ở Alençon.

Thứ Ba, 23 tháng 4, 2013

TIN MỪNG CHÚA CƯU THẾ


TIN MỪNG CHÚA CỨU THẾ (tiếp) 


           Cô thưa : "Việc ấy sao thành,
"Vì tôi nguyện giữ khiết trinh trọn đời ?"
            Sứ thần Thiên Chúa đáp lời :
"Quyền năng Chúa sẽ trên người rợp che :
            "Thánh Linh ngự xuống uy nghi,
"Bởi Con Chúa chính Hài Nhi Thánh này !
            "I-sa-ve chị họ người,
"Vẫn từng mang tiếng hiếm hoi muộn mằn,
            "Hoài thai nay đã nửa năm :
"Việc kì diệu Đức Chúa ban cho bà.
            "Với quyền năng Chúa bao la,
"Không điều gì lại kể là khó khăn !"
            Ma-ri-a mới thưa rằng :
"Này tì nữ Chúa xin vâng lời Người.
            "Xin cho thành sự nơi tôi !"
Ngay giây phút ấy Ngôi Lời xuống thai.
            Chúa Trời nhập thể từ đây,
Thiên đàng kính ngưỡng phút giây nhiệm mầu.
            Thời cứu độ đã khởi đầu,
Đất trời nối lại ước giao muôn đời.
            Hoàn thành sứ mệnh Chúa sai,
Thiên thần từ tạ cô rồi biến đi.



Đức Ma-ri-a viếng thăm bà I-sa-ve 
(Lc 1:39-45)



            Ma-ri-a mãi gẫm suy :
Việc tay Chúa thật diệu kì lớn lao.
            Ôi tình yêu rất cao sâu,
Lòng nào cảm hết, trí đâu biết tường !
            Rồi cô thu xếp lên đường,
Gập ghềnh vượt mấy dặm trường sơn khê,
            Đến miền núi xứ Giu-đê,
Viếng thăm chị họ đang kì hoài thai.
            Chị em xa cách lâu ngày,
Gặp nhau mừng rỡ trao lời hàn huyên.
            Cô vừa thoạt cất tiếng lên,
Thai nhi lòng chị bỗng liền nhảy vui.
            I-sa-ve những bồi hồi,
Thánh Linh Chúa khiến cất lời cao rao :
            "Ma-ri-a phúc dường bao,
"Trong hàng phụ nữ ai đâu sánh tày !
            "Con lòng em phúc lạ thay,
"Sao tôi được Mẹ Chúa nay đến cùng !
            "Vì nghe em nói vừa xong,
"Bé con đã nhảy mừng trong lòng mình !
            "Phúc cho em đã vững tin
"Mọi điều Chúa phán sẽ nên vẹn toàn !"





TINH THẦN TÔNG ĐỒ

     Cha mẹ tôi rất chú trọng đến phần rỗi linh hồn người ta, thường hay cầu nguyện và xin kẻ khác cầu nguyện cho người tội lỗi, như khi có một người hàng xóm liệt nặng thì ra sức liệu sao cho được chịu các phép bí tích sau hết.
     Lúc chị Pauline đang tòng học nội trú tại dòng Đức Mẹ thăm viếng ở Mans, ngày 14 tháng 5 năm 1876, mẹ tôi có viết trong thư như vầy : "Mẹ xin con, nhất là dì con, cầu nguyện cho một người hòng qua đời, đã 40 năm không xưng tội. Cha con làm hết sức cho người đó trở lại."
     Việc tông đồ phổ thông nhất trong họ chúng tôi là Hội Truyền Giáo. Hằng năm cha mẹ tôi dâng cho Hội một số tiền khá lớn.
     Khi các ngài cầu nguyện, thường không quên cầu theo ý Hội Thánh và Đức Thánh Cha. Trong nhà, chúng tôi cũng hay nghe nói đến những nỗi khốn khổ Hội Thánh phải chịu, Đức Thánh Cha phải lưu đày, cuộc bách hại tôn giáo đang khởi mào ở Pháp và trong cả thế giới. Còn điều này tôi tưởng cũng nên ghi lại : cha mẹ tôi tin cậy, mong nhờ thánh lễ Misa hơn các lời cầu nguyện khác, lại hay lo xin lễ cầu cho các đẳng.
     Sau này cũng vẫn còn thấy dầu bệnh hoạn đau phiền cũng không sao vùi lấp được tâm trạng cha tôi hay lo lắng cho đồng loại.
     Cha mẹ chúng tôi có thể rút lui vào khung cảnh gia đình, sống ẩn dật, để cùng nhau hưởng niềm vui thân mật. Nhưng không, các ngài đã mở tầm nắt chúng tôi, làm cho chúng tôi biết nghĩ đến người khác.
     Cũng vì đó cha tôi đã nói với Têrêsa về tên phạm nhân Pranzini. Tên này nhờ Têrêsa mới được ơn cứu rỗi.

CAN ĐẢM - BÁC ÁI VỚI ĐỒNG LOẠI

     Thêm vào lòng mến Chúa và tinh thần sống theo đức tin, cậy, cha tôi còn có lòng thương người tột bậc. Đời người có đứn này là trổi hơn cả.
     Dầu nửa đêm, nhưng hễ nghe báo hiệu hoả tai thì người tốc dậy liền và chạy đến chữa chỗ nào nguy hiểm nhất. Chúng tôi đã từng biết cha chúng tôi can đảm, nên khi đến giờ hẹn mà chưa thấy về thì chúng tôi bồi hồi e ngại.
     Có cuộc ẩu đả chúng tôi sợ người vào can rồi bị đánh lây ; hay có ai chết đuối chúng tôi cũng lo, bởi người lội giỏi, thường hay nhảy ào xuống vớt, không ngần ngại liều chết để cứu kẻ khác.
     Lúc còn trai trẻ, cha tôi đã vớt được nhiều người. Mà có một lần rất nguy, may chứ nếu không cũng chết, vì nạn nhân hoảng quá cứ đánh liều ôm chặt cổ người làm tê liệt cử động không nổi nữa.
     Thấy những tổ chức thanh thiếu niên hiện tại, tôi nghĩ : ngày xưa cha tôi rất hài lòng được làm thiếu sinh quân, giả như có phong trào thanh niên như nay, chắc người sẽ thích gia nhập đoàn Hướng Đạo. Cắm trại mạo hiểm đối với người chắc là thú vị lắm.
     Người can đảm bất khuất, lại cương quyết nhẫn nại và có nghị lực phi thường, thật xứng làm con một vị sĩ quan.
     Trong thư mẹ tôi thuật lại cuộc quân đội Phổ [= Prussie (fr.), Prussia (eng.)] chiếm đóng Alençon hồi tháng 11 năm 1870, có đoạn sau này minh chứng : "Tôi đoán có sai đâu, chánh phủ còn có thể đưa ra mặt trận những đàn ông từ 40 đến 50 tuổi. Còn bạn tôi [tức là cha Têrêsa] không chút băn khoăn, không xin miễn dịch lại thường nói : nếu được sẽ tình nguyện gia nhập đội nghĩa dũng quân."
     Cha tôi bình tĩnh đặc biệt. Mấy người giúp việc trong nhà đều nhận thấy. Một chị giúp việc ở Buissonnets viết thư cho dòng kín, có nhắc đến đức tính này : "Ông Martin, trước nhất là một đấng thánh, ông lại rất can đảm, không sợ gì cả..."
     Thật vậy, hễ nghe đâu có kẻ lâm nguy, người liền chạy đến tiếp cứu. Một buổi sáng kia, túp lều trước Buissonnets phát hoả dữ dội, người xông vào cứu được bà lão Ái-nhĩ-lan ở một mình trong lều, và dập tắt được ngọn lửa. Trong những trường hợp như vậy, người không muốn ai tiếp phụ, và bảo người ta đừng hô hoảng, vì sợ người gian giảo thừa dịp cướp của.
     Sau đó, bà lão Ái-nhĩ-lan giơ tay lên trời, với một ngôn ngữ riêng biệt, bà xin Chúa ban mọi phúc lành cho vị ân nhân đã cứu bà. Việc này chính tôi được mục kích.

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013

SONG THÂN THÁNH NỮ TÊRÊSA (tiếp)

        Những chi liên quan đến Chúa đều làm cho người say mê. Nhân một buổi lễ Sinh Nhật [của Chúa Giê-su = lễ Giáng Sinh] : lúc ngày sống sắp tàn, nơi nhà khách ở Nhà Kín, người nói với Sœur Agnès de Jésus "Một Hài nhi ! Ôi ! Chúa đã tự hạ mình đến thế, lẽ gì không hấp dẫn được lòng nhân loại ? Hài nhi đáng yêu mến dường nào !"
        Người cũng có lòng tôn sùng Năm Dấu Thánh Chúa nữa.
        Tôi nghe người thường nói chuyện với mẹ tôi về thiên đàng, về cuộc đời đời,
        Alençon cũng như Lisieux, người chỉ có những sách đạo đức thôi. Cũng nhờ cha tôi mà em Têrêsa biết được quyển sách "Ngày tận thế và những mầu nhiệm đời sau" của cha Arminjon viết. Quyển sách đã làm nhiều lợi ích cho Têrêsa mà chính Sœur Agnès de Jésus đã cho cha tôi mượn.
        Cha tôi cũng đi cấm phòng kín. Một trong những lần người đến tĩnh tâm trong dòng khổ tu Soligny, người ta còn ghi giữ lại ngày tháng.
        Người thích những cuộc kính viếng các nơi thánh. Khởi hành thì ăn chay rồi chống gậy mà đi đến nhà thờ Đức Mẹ ở Séez hay các nhà thờ gần Alençon. Nhiều lần cũng đi đến Chartres. Mục đích cuộc kính viếng là : xin một ơn nào, như cho con khỏi bịnh hay cầu nguyện cho nước Pháp thoát nguy.
        Dư luận hay phê bình không làm cho người e ngại. Trái lại người kể việc biểu dương ý kiến đạo đức làm một danh dự. Ngày kia một đoàn giáo lữ địa phương đi kính viếng Lô-đức về, tới ga Alençon thì đụng đầu một nhóm biểu tình chế nhạo. Đoàn giáo lữ thì sợ, còn người mạnh dạn xông ra, dẫn đầu, cổ đeo chuỗi, tiến vào giữa đám người ấy làm họ giải tán ngay.
        Lần khác, trên đường kiệu Mình Thánh Chúa, người lanh tay hất văng cái mũ của anh chàng ngạo mạn, có thái độ xấc xược, muốn tỏ ra mình không thèm dở nón khi Mình Thánh Chúa đi qua. Cho nên nhiều tay nghịch đạo cũng phải nể người, mặc dầu trong nhiều trường hợp cử chỉ của người đã cho họ lắm bài học đích đáng.
        Thấy trẻ giúp lễ không rành hay quên sót, cha tôi cũng không chịu được. Một buổi kia, tôi ngạc nhiên thấy người bỏ chỗ quỳ, đến lấy cái chuông để gần bổn đạo mà rung khi dâng Mình Thánh Chúa.

        Người giữ kỹ những ngày chay buộc, dù ở nhà có tiếp những ông khách không giữ đạo cũng mặc.
        Mẹ tôi viết thư cho cậu tôi ngày 16 tháng 5 như vầy : "Cậu có cho tôi hay, nội tuần này dì [có lẽ đúng hơn phải là "mợ" vì là vợ của cậu] ở Ba-lê [= Paris] sẽ đến thăm. Tin này làm cho cả nhà thích lắm và đã mừng lần lần rồi. Cậu có nói : dì chỉ ở lại một ngày thôi. Việc đó sẽ tính sau vì tôi muốn dì ở lâu hơn. Nhưng nếu được thì cậu hãy bảo dì : tốt hơn là tuần sau sẽ đến... vì Thứ Tư, Thứ Sáu và Thứ Bảy tuần này là ngày chay Bốn Mùa. Cậu biết Louis [tức là cha Têrêsa] giữ luật Hội Thánh rất nhặt, ăn thịt và bỏ chay để được một đế quốc ông ấy cũng không thèm. Còn dì, tôi biết có giữ hay không ? Mới trong Mùa Chay này ông D. đến chơi, cậu không thể tưởng tượng chúng tôi ái ngại như thế nào : Louis cứ giữ chay một mình, còn tôi, tôi nghĩ hoàn cảnh chuẩn được ; đang lúc chúng tôi ngon miệng thì Louis chỉ dùng một ít thức ăn nhẹ thôi, tất nhiên là không dọn thịt cho ông được."

        Đặc biệt hơn nữa, cha tôi rất thận trọng giữ ngày Chúa Nhật. Chúa Nhật đối với người là một ngày thánh. Người hoàn toàn nghỉ việc, đến nỗi các bạn của người cho cái hành vi như thế là quá đáng.
        Họ thúc cha tôi mở cửa tiệm trong ngày lễ, mở một cánh nhỏ cũng được, nếu không thì mất cơ hội được nhiều mối lợi. Những ngày lễ, cửa hiệu tạp hoá đối diện dập dìu những khách vào ra, phần nhiều là dân quê tới Alençon sắm những vật dọn cưới, rửa tội hay làm quà v.v... rất thuận chiều buôn bán. Nhưng vô ích ! Cho [= đối với] người khác có lẽ đã xiêu lòng, còn cha tôi không lay chuyển được.
        Cũng tại vậy mà ngày Chúa Nhật người không mua món gì cả. Một lần người thấy họ chưng hàng, có viên đá mài vừa ý, thì người dặn để dành ngày mai người sẽ đến mua.
        Chúng tôi cũng theo một nguyên tắc đó, cho nên ngày áp lễ thì chúng tôi làm bánh để dùng luôn trong ngày lễ.
        Trong thư gửi cho mợ Guérin, mẹ tôi có viết : "Nhiều lần thấy Louis giữ Chúa Nhật rất chu đáo, tôi thánh phục và thầm nghĩ : người như vậy không bao giờ mong chuyện làm giàu. Khi mới mở cửa hiệu, cha giải tội cho phép ngày Chúa Nhật bán tới trưa, nhưng ông không chịu dùng ơn rộng này, đành không tiêu thụ được hàng hoá làm hơn. Nhưng dù vậy ông cũng giàu. Tôi thiết tưởng : sung túc như vậy không vì nguyên nhân nào hơn là Chúa chúc lành và là cái kết quả của việc trung thành giữ ngày Chúa Nhật."
        Tôi thấy cha tôi chào tất cả các giáo sĩ người gặp, lòng tôi rất cảm khích. Người đặc biệt tôn kính các cha, tôi chưa thấy ai hơn nữa. Vì vậy mà lúc tôi còn nhỏ tôi cứ tưởng các cha là thần thánh, vì tôi mải quen thấy cha mẹ tôi đối đãi các ngài biệt hẳn với hạng người thường.
        Không bao giờ tôi nghe người chỉ trích các linh mục, hay phê bình bài giảng của các ngài. Người chỉ chăm chú, cung kính nghe lời của Chúa, không để ý xét dụng cụ Chúa dùng để giảng lời đó có giá trị như thế nào.

Thứ Tư, 3 tháng 10, 2012

SONG THÂN THÁNH TÊRÊSA


THÁNH TÊRÊSA hồi 15 tuổi
và THÂN PHỤ CỦA NGƯỜI


THÂN PHỤ

của

THÁNH TÊRÊSA GIÊ-SU HÀI ĐỒNG


PHẦN THỨ NHẤT
____


DUNG HẠNH CỦA CHA TÔI


Cha tôi tên là Louis Martin, sinh tại Bordeaux, ngày 22 tháng 8 năm 1823, con một sĩ quan Pháp, lúc đó đang đồn trú tại thành phố này, nhưng tổ quán ở Normandie.

Vừa sinh ra, cha tôi được rửa tội cần kíp ngay, còn các nghi lễ thì hoãn lại, vì viên đại uý phải bận đi hành quân ở Tây-ban-nha. Sau cuộc hành quân ấy, ông được thưởng Huy chương Thập Tự Hiệp Sĩ thánh Louis.

Lúc đoàn người đem đứa bé vào đền thánh Eulalie để bù nghi lễ Rửa tội, tình cờ có Đức Tổng Giám mục thành Bordeaux ở đó, người tiến đến chúc lành cho con trẻ và nói với cha mẹ đứa bé : "Ông bà hãy vui mừng vì trẻ này là một kẻ Chúa chọn".

Nhờ quyển "Truyện một Gia đình" và lời tựa quyển "Truyện một linh hồn" mà biết được cha tôi lúc xuân thời đã có nguyện vọng đi tu, hồi 20 tuổi, người toan vào dòng các cha trên núi Grand Saint Bernard.

Sau một thời gian khá lâu, người mới tính lập gia đình. Ngày 13 tháng 7 năm 1858 người thành hôn với cô Zélie Guérin đang quản nhiệm một cửa tiệm làm ren ở Alençon. Ông ngoại chúng tôi là một cựu quân nhân Hoàng triều, lúc đó đã gia nhập vào ti Hiến binh.

Zélie Guérin, tức là mẹ tôi, sau khi hạ sinh được 9 con mà hết 4 đã được về trời lúc còn bé, thì đã vĩnh biệt cha tôi mà qua đời ngày 28 tháng 8 năm 1877.

Sau đó, cha tôi đưa năm chị em gái chúng tôi về ở Lisieux. Tại đó, cậu tôi, Isidore Guérin, có mở một hiệu bào chế thuốc. Còn cha con chúng tôi định cư tại một tư sản gọi là "Les Buissonnets", có một ngôi nhà nằm giữa hai miếng vườn, và trên sân thượng có vọng lâu, sau này có nhiều dịp chúng tôi sẽ nhắc đến.


Lòng đạo đức - Tình yêu Chúa

Giai đoạn đời xuân, cha tôi ở với ông bà tôi tại Alençon, trong vùng ngoại ô Saint Pierre de Monsort. Sau người mở một tiệm đồng hồ và nữ trang ở khu Monsort, số 23, đường Pont-neuf. Ông bà tôi cũng theo về ở chung.

Cha tôi cũng mua ở giáp giới đô thị một cái nhà nhỏ "Le Pavillon", có hình như tháp lục giác, cất trong một góc vườn, vì sở thích tu dòng còn đeo đẳng mãi, nên người mới tìm một nơi đọc sách và cầu nguyện như vậy. Trên tường, chính tay người viết nhiều châm ngôn, như : "Chúa nhìn tôi" - "Cuộc đời đời đang tiến đến".

Cha tôi dầu thích thinh lặng, tịch mạc, nhưng lòng đạo đức của người vẫn đại lượng, rộng rãi, dịu dàng, không kiêu cách. Trong vườn ở Pavillon, người có đặt tượng Đức Mẹ. Tượng này về sau đã dời về Alençon và Lisieux, cả nhà đều tôn kính cách riêng, vì chính tượng này đã mỉm cười với em Têrêsa hồi còn bé.

Hằng ngày cha tôi đi xem lễ sớm. Và tuỳ luật Hội thánh thời đó, ngày ào được phép thì người đều rước lễ. Bửng tưng, người đã ra đi với mẹ tôi, nên mỗi lần nghe tiếng đóng cửa, các người chòm xóm bảo nhau : "Hai ông bà Martin thánh thiện đi lễ, mình cứ ngủ nữa".

Các việc phượng tự khác, cha mẹ tôi cũng chuyên cần, nêu gương mẫu nền tảng cho đời sống trong họ.
Tại Lisieux, cha tôi thường dự lễ ở nhà thờ chánh toà thánh Phêrô. Ngày nào người rước lễ thì trên đường về người giữ thinh lặng. Chúng tôi có hỏi thì người trả lời : "Cha còn tiếp tục nói truyện với Chúa".
Mỗi buổi chiều, người đi viếng Mình Thánh Chúa. Khi nào có kiệu Thánh Thể, thì bề nào người cũng đi theo sát kiệu, dầu trời nắng chang chang, tất nhiên là phải đi đầu trần, người lấy làm khó chịu, nhưng không có chi làm cho người bỏ qua được.

Người biểu lộ lòng tôn sùng Thánh Thể cách đặc biệt hơn nữa, là rất trung tín và gương mẫu trong việc chầu ban đêm. Thường tới trước hơn thiên hạ, lại thích chọn những giờ nhọc mệt hơn. Nếu bắt thăm trúng giờ dễ chịu, thì người cũng vui lòng đổi cho kẻ khác.

Người ta cũng thấy cha tôi, theo lệ thói ở Alençon, cầm đèn hầu thầy cả đem Mình Thánh Chúa cho kẻ liệt. Tôi nói : theo lệ thói, nghĩa là người ta không chỉ trích việc lành này, nhưng rất ít người thực hành.
Và tôi cũng thấy mỗi lần đi ngang qua nhà thờ nào, dầu đi với ai, thì người cũng cất nón cúi đầu.


Lòng tin, cậy Chúa

Cha tôi sống theo đức tin và vững lòng trông cậy Chúa lạ lùng. Người thường nói : "Chúa trong mọi sự... – Chúa trên tất cả". Người cũng rất thích khẩu hiệu của thánh Inhaxiô "Cho danh Chúa được cả sáng".

Nhiều khi ở vọng lâu Buissonnets, một hai chị em chúng tôi tình cờ gặp người như chìm đắm trong nguyện gẫm cao sâu, mắt nhìn xa xăm, gương mặt lộ vẻ như đã được hưởng chân phước. Trong những trường hợp như thế, lắm phen chúng tôi nghe người thầm thĩ : "Ego ero merces tua magna nimis" (Gen xv:1). Lòng đã đầy tư tưởng này nên mới tràn ra như vậy. Rồi người lặp lại bằng tiếng Pháp, nhấn mạnh từng chữ một : "Cha sẽ nên phần thưởng bội hậu cho con".