Thứ Ba, 11 tháng 3, 2014

THÁNG KÍNH THÁNH GIUSE


GIUSE VỊ THÁNH SỐNG ÂM THẦM


-       Ngài kết bạn với Maria nữ trinh
-       Ngài luôn chăm sóc Thánh gia
-       Dưỡng nuôi Chúa Giêsu thuở nhỏ
-       Đồng công cứu chuộc với Chúa Giêsu
-       Nay Chúa ban cho Ngài ở trên trời
-       Luôn cầu bầu Chúa cho ngưòi thế gian.


   Lm. Antôn Lê Quang Trình




10/ BÁO HỒI QUÊ HƯƠNG

 Hê-rô-đê đã chết rồi
Sứ thần hiện đến báo hồi quê hương
Giu-se đem Bạn cùng Con
Về Na-da-rét bản thôn quê nhà

Nơi đây cưộc sống diễn ra
Giu-se thợ mộc lân la việc làm
Gia dình chung sống bằng an
Giữa dân làng xóm mọi đàng an vui

Sống tình bác ái mọi người
Lân bang hòa thuận buồn vui tháng ngày
Sẻ chia mọi nỗi đắng cay
Cộng đồng dân chúng xum vầy yêu thương.



11/ DỰ LỄ ĐỀN THỜ

Hàng năm có lễ đền thờ
Mọi người Do-thái phải lo tuân hành
Đi lên dự lễ gia đình
Mô-sê viết luật dậy truyền thực thi

Vượt qua đại lễ tới kỳ
Cộng đồng dân Chúa tiến về rất đông
Gia đình của Chúa đi chung
Lên đền dâng lễ với cùng bà con

Khi về lạc mất Con luôn
Giu-se Mẹ Chúa lo buồn hỏi han
Tìm Con hết mọi ngả đàng
Chẳng ai biết Chúa lạc đường lối đâu



12/  ĐI TÌM CON

Ông Bà đền thánh lại mau
Mong tìm thấy Chúa còn hầu nơi đây
Quả Con Chúa vẫn ở ngay
Tại trong đền thánh các thày bao quanh

Hỏi han giáo lý thực hành
Ngài đang giải thich rõ rành cho nghe
Mừng vui Mẹ với Giu-se
Ông Bà đứng đợi Con về cùng đi.

Mẹ cha ngẫm nghĩ suy tư
 Chúa Con công việc Cha thì đã sai
Sau thời cưộc sống hàng ngày
Cách nào sẽ đến sau này cho Con



13/ CON RA GĂP MẸ CHA

Con ra gặp Mẹ cha mừng
Mẹ liền trách móc lời dùng sau đây :
Sao làm cha Mẹ buồn này
Con đang làm việc Cha sai phải làm

Ông Bà thinh lặng âm thầm
Về Na-da-rét dân làng sống vui
Chúa Con càng lớn nên rồi
Vẹn toàn đức hạnh thành người lớn khôn.

Chúa Cha coi thấy hài lòng
Người Con xuống thế ở cùng thế nhân
Tỏ bày công cuộc hứa ban
Phục hồi nhân loại đã làm mất ân.



14/ THÁNH GIUSE Ở TRÊN TRỜI

Thánh nhân nay ở trên trời
Hay cầu bầu Chúa cho người trần gian
Ai cần cầu khẩn kêu van
Ngài luôn cầu Chúa thương ban ơn lành

Bởi khi sống tại gian trần
Ngài vâng lệnh Chúa chu toàn chăm lo
Thánh gia nuôi Chúa Giê-su
Đồng công cứu chuộc Chúa cho nhân loài

Nay Ngài ngự trị trên trời
Chúa Cha công thưởng nghe lời Ngài xin
Ban cho ai có lòng tin
Xin Ngài bầu cử chuyển lên Chúa Trời.



15/ GƯƠNG THÁNH GIUSE

Giu-se thánh cả cần lao
Cuộc đời cặm cụi với bao nhọc nhằn
Gia đình săn sóc lo chăm
Cấp cung lương thực vẹn toàn sống sinh

Tấm gương chiếu sáng gia đình
Cho bao gia trưởng ảnh hình theo noi
Mẫu gương Thánh cả ở đời
Vững tin thực hiện Chúa Trời giúp ân

Cứ theo ý Chúa thực hành
Phước ơn Thiên Chúa sẽ dành ban cho
Chớ nên bộn rộn lắng lo
Đường đi của Chúa trải qua việc làm.



16/ KÍNH THÁNH GIUSE

Tháng ba kính thánh Giu-se
Ba mươi năm Chúa Giê-su sống gần
Cha nuôi chỉ vẽ đàng lành
Người cha tận tụy nuôi chăm cuộc đời

Công lao cứu chuộc loài người
Ban ơn nhân thế muôn thời lãnh ân
Tỏ lòng tôn kính thánh nhân
Hội thánh dành tháng kính tôn danh Người

Nay Người đang ngự trên trời
Chúa ban công thưởng cho đời ghi ơn
Bởi Người bảo vệ hồng ân
Đồng công cứu chuộc thế nhân mọi thời.



17/ THÁNH GIUSE GÌN GIỮ HỒNG ÂN

Giu-se Chúa phó giữ gìn
Hồng ân Thiên Chúa xuống trên nhân loài
Đức Ki-tô Chúa truyền sai
Xuống nơi trần thế cứu đời khổ đau

Loài người phạm tội từ đầu                                         
Mất ơn mất phúc Chúa trao Thiên đường
Chúa sai ngay chính Chúa Con
Xuống nơi trần thế cứu luôn nhân loài

Giu-se Thiên Chuá chọn Người
Giữ gìn chăm sóc cuộc đời trẻ thơ
Với cùng Bạn Ma-ri-a
Nơi Gia đình Thánh cho qua mắt trần



18/ ĐỀN THÁNH GIUSE

Ca-na-da có thánh đền
Bao người bệnh tật dâng tiền làm nên
Một nơi xứng đáng kính tin
Thánh nhân đã chữa bệnh tình thế gian

Khách du lịch đến cầu ân
Thánh Giu-se cũng luôn ban ơn lành
Thày An-đrê giúp kêu van
Bao người bệnh tật thánh nhân nghe lời

Ngài xin lên với Chúa trời
Đã ban xuống phước chữa người kêu xin
Thánh Giu-se ở thế gian
Công lao nuôi dưỡng bảo toàn Thánh gia.



18/ CẦU THANG NEW MEC-XI-CÔ

 Cầu thang của thánh Giu-se
Nhà Dòng nữ tại Méc-xi-cô này
Thánh nhân ẩn giấu làm đây
Cầu thang gác hát lạ thay khôn lường

Thang tròn ba ba bậc luôn
Gỗ dùng lấy tại mãi vùng xa xôi
Bậc thang tiếp nối nhau rồi
Chẳng đinh sắt đóng nối hoài lên cao

Công trình kỳ lạ biết bao
Các nhà kiến trúc chẳng sao hiểu này
Nơi đây khách viếng hàng ngày
Tham quan du khách tới đây ca ngời.



18/  QUAN THÀY GIÁO HỘI VIỆT NAM

Đúng ngày mười chín tháng ba
Giu-se thánh lễ diễn ra kính mừng
Các nhà truyền giáo đặt chân
Vào nơi đất nước Việt nam rao truyền

Tin mừng cho các Tổ tiên
Dòng nòi dân Việt lòng tin Chúa Trời
Tổ tiên đón nhận tin lời
Thực thi sống đạo đồng thời truyền cho

Cháu con tiếp nối tới giờ
Các Ngài cương quyết chăm lo lưu truyền
Để luôn giữ vững Đức tin
Máu đào minh chứng giữ gin đặc ân.






Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

THÁNG KÍNH THÁNH GIUSE



GIUSE VỊ THÁNH SỐNG ÂM THẦM


-       Ngài kết bạn với Maria nữ trinh
-       Ngài luôn chăm sóc Thánh gia
-       Dưỡng nuôi Chúa Giêsu thuở nhỏ
-       Đồng công cứu chuộc với Chúa Giêsu
-       Nay Chúa ban cho Ngài ở trên trời
-       Luôn cầu bầu Chúa cho ngưòi thế gian.


   Lm. Antôn Lê Quang Trình


1/ CHÚA CHỌN GIUSE

Chúa thương kén chọn Thánh nhân
Để Ngài ẩn dật hiến thân âm thầm
Chở che Thánh thất dương trần
Mọi nơi hoàn cảnh khó khăn tư bề

Giu-se tín nghĩa kiên trì
Với ơn dìu dắt Chúa thì thông ban
Mỗi khi trắc trở khó khăn
Sứ thần chỉ lối soi đàng dẫn đi

Tin vào Thiên Chúa quyền uy                                    
Chăm lo bảo vệ luôn thì thánh gia
Mọi cơn khốn khó trải qua
Gia đình sinh sống diễn ra an toàn.


2/ KẾT BẠN

Thời gian Chúa hứa cứu đời
Mọi người nam nữ tìm nơi tộc dòng
Cháu con Đa-vít tông đường
Gia đình kết bạn cầu mong ơn lành



Chúa thương ban phúc gia đình
Sinh ra chính Đấng cứu tinh nhân loài
Giu-se Ma-ri-a thời
Ước ao chẳng giống ý người trần gian

Hai người chỉ muốn hảo toàn
Chở che khỏi mắt thế nhân ngó nhìn
Coi nhau như bạn nghĩa tình
Sống trong thánh thiện giữ mình tốt luôn



3/ HỨA HÔN

Những ngày hôn ước cuối thời
Bỗng nhiên Thần sứ đến nơi loan truyền
Ma-ri-a khiếp sợ liền
Sứ thần yên ủi nhủ khuyên những lời :

Đây là thánh ý Chúa Trời
Truyền đem ơn phước xuống nơi lòng bà
Bà vâng đón nhận sinh ra
Cho đời Đấng cứu tinh đà hứa xưa

Ma-ri-a thấy rõ là                                               
Ý Thiên Chúa muốn diễn ra nơi mình
Nên thưa vâng lệnh Sứ truyền
Và Con Chúa tức xuống liền bào thai  



4/ GIUSE THẤY BẠN CÓ THAI

Giu-se biết Bạn mang thai
Tâm thần bối rối biết đây thế nào
Trốn đi bỏ Bạn làm sao
Rồi đây sự việc biết đâu phải làm

Đang khi lo lắng tìm đàng
Sứ thần hiện đến chỉ đường ban đêm
Đừng nên sợ hãi Bạn hiền
Ma-ri-a Bạn nữ trinh mang bầu

Bởi do Thánh Thần ơn trao
Ông vui nhận lãnh về mau gia đình
Bạn hiền rồi sẽ hạ sinh
Giê-su con trẻ đặt tên cho Người.



5/ BIẾT Ý THIÊN CHÚA

Giu-se biết rõ ràng rồi
Ông vui nhận lãnh Bạn đời nữ trinh                   
Về nhà vui sống gia đình
Luôn luôn tôn kính Bạn hiền quí thay

Đồng hành cuộc sống hàng ngày
Cho dầu vất vả chung tay ăn làm
Mong sao ý Chúa hoàn thành
Cuộc đời hạnh phúc gia đình sẻ chia

Bỗng đâu chiếu chỉ vua ra
Mọi người quê quán đâu xa mau về
Đăng khai hộ khẩu kiểm kê
Theo dòng họ gốc nguồn kìa Tổ tiên.



6/ VỀ BELEM BẢN QUÊ

Vâng theo chiếu chỉ trở về
Be-lem quê quán xưa kìa Tổ tiên
Tông dòng Đa-vít lưu truyền
Làm vua cai trị tại miền đất đây

Be-lem trên khoảng đường dài
Hai người lữ khách cuối ngày tìm nơi
Trọ đêm giá lạnh tiết thời
Mọi nhà từ chối bởi coi thấy bầu

Bạn hiền ngày tháng tới mau
Sắp giờ Con Trẻ bước vào trần gian
Giu-se dắt Bạn lần đàng
Ra ngoài đồng ruộng trú hang chiên bò.



7/ CHÚA SINH RA

Nửa đêm rét buốt thấu xương
Bạn hiền trở dạ sinh Con chào đời
Giu-se bên cạnh đồng thời
Sẻ chia cực nhọc Bạn người khổ đau

Ông Bà sung sướng biết bao
Được bồng Con Chúa giữa nào tuyết buông
Phút đầu Chúa xuống trần dương
Trong nơi lạnh giá buốt xương con người

Gần đây mấy trẻ chăn coi
Chiên bò được báo tới nơi thấy rồi
Trẻ thơ nằm máng tanh hôi
Trên mình cuốn tã nhìn coi rõ ràng.



8/ ĐEM CHÚA ĐI CẮT BÌ

Tám ngày sau Chúa chào đời
Giu-se cùng Bạn mau rồi đem đi
Đền thờ để chịu cắt bì
Luật Do-thái cổ Mô-sê duy trì

Si-mon, An-na tiên tri
Gặp nơi đền thánh nói về Hài nhi
Sẽ nên cớ vấp phạm kia
Kẻ thì chỗi dậy người thì ngã luôn

Ông Bà ghi tạc vào lòng
Những điều tiên báo đem Con trở về
Sống trong êm ấm trọn bề
Chăm lo Con Chúa đương thì ấu nhi.



9/ TRỐN SANG AI-CẬP

Ba vua thăm Chúa trở về
Chẳng loan báo Hê-rô-đê biết đường
Ông liền nổi giận bừng bừng
Lệnh tàn sát trẻ khoảng chừng hai năm

Sứ thần đêm đến báo loan
Giu-se mang Mẹ Con sang xứ người
Nước Ai-cập ở một thời
Đợi ngày Thần sứ báo hồi về sau

Giu-se đem Mẹ Con mau
Đi Ai-cập ở nhà bao trẻ lành
Bị tàn sát giết hại nhanh
Đất Be-lem tiếng khóc tràn khắp nơi.





Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

LỘ-ĐỨC THÁNH MẪU LƯỢC KÝ (003)

LỘ-ĐỨC THÁNH MẪU LƯỢC KÝ
(tiếp theo)

路德聖母畧記

BÙI NGỌC HIỂN
phiên âm và chú thích


Kỳ 3


     Các số ghi trong bản phiên âm dưới đây nhằm dễ dàng so sánh đối chiếu với nguyên bản. Theo cách viết văn Hán – Nôm truyền thống, câu văn không hề có các dấu chấm câu, ngắt đoạn. Trong quyển truyện này, có một số dấu chấm, và khi ngắt đoạn (paragraphe) thì để cách ra một khoảng bằng với một chữ, mà không có sang dòng mới. Cách trình bày như thế làm hình thức của bản văn không được sáng sủa. Vì thế, trong khi phiên âm, chúng tôi xin thêm vào các dấu chấm câu, và sẽ xuống dòng mới khi cần ngắt đoạn.


     Số trong dấu { và } là số trang, số trong dấu [ và ] là số dòng tương ứng với nguyên bản, số trong dấu ( và) là số chú thích bên dưới. Như đã trình bày ở phần Giới thiệu, những điều này làm cho mạch theo dõi của người đọc bị ảnh hưởng ít nhiều. Rất mong quý bạn đọc lượng thứ.





{6}

[1]     ĐOẠN THỨ HAI

[2]     VỀ TÍCH TRUYỆN BÊ-NA-ĐÊ-TA KHI CÒN BÉ
[3]     CÙNG VỀ SỰ ĐỨC BÀ HIỆN RA CÙNG BÊ-NA-ĐÊ-TA LẦN THỨ NHẤT

[4] Năm từ Đức Chúa Giê-su ra đời là một ngàn tám trăm năm mươi tám, trong phố thành Lộ-đức có một nhà [5] hai vợ chồng ; chồng tên là Phan-chi-cô (20) mà vợ gọi là Lu-i-xa (20), cả và hai khó khăn lắm, chỉ đi [6] làm thuê làm mướn kiếm ăn, dù mà nhà ở cũng không có phải thuê nhà người ta. Hai người ấy khó khăn phần [7] xác, nhưng mà phần linh hồn thì sốt sáng đạo đức.

     Vợ chồng được bốn đứa con, hai trai, hai gái. Con gái đầu [8] lòng tên là Bê-na-đê-ta, mẹ vừa sinh ra thì liền ốm đau ngay không nuôi được con, phải nhờ người [9] làng khác nuôi thay (21). Đến khi Bê-na-đê-ta đã lên bảy tám tuổi cùng đã bế em được và đã cất nổi [10] việc nọ việc kia giúp đỡ cha mẹ, thì cha mẹ toan bắt về nhà. Song nhà nuôi Bê-na-đê-ta yêu con...

Chú thích :

(20) Phan-chi-cô, Lu-i-xa : đều phiên âm theo tiếng Tây-ban-nha : FranciscoLuisa. Tên tiếng Pháp của hai ông bà là François Soubirous (theo tiếng địa phương là Francés Sobirós ; 1807–1871) và Louise (Loïsa Casteròt ; 1825–1866). Hai ông bà sinh được 9 người con, con cả là Bê-na-đê-ta, những người kia là : Gio-an (Jean ; sinh và mất cùng năm 1845), Ma-ri-a-An-tô-ni-a (Marie-Toinette ; 1846 – 1892), Gio-an-Ma-ri-a (anh, Jean-Marie ; 1848–1851), Gio-an-Ma-ri-a (em, Jean-Marie ; 1851 – 1919), Giu-ti-nô (Justin ; 1855 – 1865), Bê-na-đô-Phê-rô (Bernard-Pierre ; 1859 – 1931), Gio-an (Jean ; sinh và mất cùng năm 1864), và Lu-i-xa (Louise ; sinh và mất ngay lúc lọt lòng mẹ năm 1866).

(21) Bê-na-đê-ta, tiếng Pháp là Bernadette Soubirous (theo tiếng địa phương là Bernadeta Sobirós), tên chính thức là Marie-Bernarde Soubirous (Maria Bernada Sobirós), sinh ngày 7 tháng 1 năm 1844 ở Lourdes, mất ngày 16 tháng 4 năm 1879 ở Nevers, được Đức Giáo hoàng Pi-ô XI phong Chân phước ngày 14 tháng 6 năm 1925, sau đó được cũng Đức Giáo hoàng Pi-ô XI phong Hiển thánh ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm (8 tháng 12) năm 1933. Lễ nhớ thánh nữ là ngày 16 tháng 4, nhưng tại Pháp là ngày 18 tháng 2. Bê-na-đê-ta từ khi sinh ra được bà Marie Lagüe, sống ở làng Bartrès ngay bên cạnh Lourdes trong 2 năm, về nhà với cha mẹ đẻ ở Lourdes tháng 4 năm 1846. Sau đó, vì nhiều biến động, gia đình Bê-na-đê-ta lâm vào cảnh túng cực, Bê-na-đê-ta lại đến ở với bà Marie Lagüe vào tháng 9 năm 1857, qua năm sau ngày 21 (hoặc 28) tháng 1 năm 1858 lại trở về Lourdes chứ không ở liên tục nơi nhà cha mẹ nuôi suốt từ khi ra đời cho đến năm 1858 như trong LĐTMLK tường thuật (theo Régis-Marie de La Teyssonnière, "L'abbé Ader").


{7}

[1] ấy lắm, thì nài xin cha mẹ để con bé ấy ở lại với mình ít lâu nữa, cùng hứa từ ấy về sau [2] sẽ nuôi không, chẳng dám lấy công xá gì nữa. Cha mẹ Bê-na-đê-ta ưng nghe, cùng cho Bê-na-đê-ta [3] ở lại với cha mẹ nuôi ba bốn năm nữa

     Bê-na-đê-ta vốn tính hiền lành ngay thật, có lòng sốt [4] sáng kính mến Rất Thánh Đức Bà. Khi đi chăn chiên một mình nơi vắng vẻ, thì những lần hột liên. Đến tuổi những [5] trẻ khác đã biết cùng đã phạm nhiều giống tội gở lạ, thì khi ấy Bê-na-đê-ta còn chưa biết những sự [6] ấy ; linh hồn Bê-na-đê-ta vốn còn thanh sạch, cùng giữ ơn phép Rửa tội cho trọn vẹn. Về phần xác Bê- [7] na-đê-ta có bệnh hen bệnh suyễn, cùng yếu đuối hom hem, chẳng được khoẻ mạnh như trẻ con nhà người ta. Dù [8] mà Bê-na-đê-ta yếu đuối mặc lòng, song vốn cũng vui vẻ tươi mặt liên, cùng bằng lòng chịu bệnh tật mình [9] chẳng có khóc lóc quấy quắt (22) cha mẹ như các trẻ khác khi phải ốm đau bệnh tật.

     Nhà nuôi Bê-na-đê- [10] ta chỉ dạy nó một sự lần hột mà thôi, còn kinh đọc cùng bổn (23) xưng tội chịu lễ thì chẳng có dạy đến,...

Chú thích :

(22) quấy quắt : nguyên bản dùng các chữ 快屈 là hai chữ Nho, có âm Hán – Việt là "khoái khuất", âm Nôm có thể đọc là "quấy quắt" như chúng tôi phiên, hoặc cũng có thể đọc là "khuấy khuất".

(23) kinh bổn, hoặc bản, tức là "kinh bản hỏi", là kinh dạy giáo lý căn bản trước kia, đặt theo lối hỏi thưa.




{8}

[1] cho nên đến khi Bê-na-đê-ta đã lên mười bốn tuổi, thì cha mẹ bắt về nhà cho được học kinh bổn [2] và dọn mình xưng tội chịu lễ lần đầu.

     Bê-na-đê-ta về nhà cha mẹ cuối tháng giêng năm một ngàn [3] tám trăm năm mươi tám. Mẹ thấy con yếu đuối ho hen, thì coi sóc cách riêng. Bấy giờ là mùa đông giá rét [4], các em đi giày không chẳng có bít tất, nhưng mà mẹ bắt Bê-na-đê-ta xỏ bít tất, cùng dạy ở nhà [5] làm những việc vặt, còn các việc ngoài thì sai các em.

     Bê-na-đê-ta mới về nhà được độ mười lăm ngày, [6] đến ngày mười một tháng hai, quá nửa buổi non trưa, mẹ sai Ma-ri-a là em kém Bê-na-đê-ta ba [7] tuổi đi kiếm củi thổi, vì nhà chẳng có cái gì thổi sốt. Bê-na-đê-ta cũng muốn đi với em lắm, nhưng [8] mà mẹ bảo rằng :

     - Hôm nay trời lạnh lắm, con đã ho yếu sẵn, có cho con đi thì con lại càng ho yếu [9] hơn. Thôi, con ở nhà đừng đi.

     Cũng một lúc ấy, có một con bé hàng xóm tên là Xu-an-na (24) vào nhà [10] rủ chúng bạn đi kiếm củi. Cả và ba xin nài mẹ, thì mẹ chiều lòng chúng nó mà cho Bê-na-đê-ta...

Chú thích :

(24) Ma-ri-a là em gái kế Bê-na-đê-ta (thường gọi là Toinette, xem chú thích 20) ; Xu-an-na là cách phiên âm theo tiếng Tây-ban-nha Juana tức là Jeanne Abadie.



{9}

[1] đi.

     Ba chị em vui lòng lắm, liền ra cuối phố, qua cầu đá, sang bên tây sông Ga-vô, rồi đi nhờ [2] nhà thợ xay đâm (25) sang sông đào, vào đất giữa sông cái và sông đào kiếm củi, vì ở đấy là rìa bờ sông [3] cái, có nhiều cây cao lớn, hễ cơn gió to thì những cành khô ở trên cây gãy rơi xuống đất. Hai đứa kia [4] đi trước, vừa đi vừa nhặt củi, còn Bê-na-đê-ta yếu đuối đi không kịp chị em thì chưa nhặt được thí [5] nào.

     Khi chị em đến nơi sông đào chảy vào sông cái ngang hang Ma-sa-bi-e (26), thì trông thấy ở chân núi [6] bên kia sông đào có nhiều củi lắm. May ngày ấy nhà xay đâm chữa máy, thì đã đắp đập (27) cửa sông đào, cho [7] nên sông cạn lắm. Hai đứa kia trút giày lội qua sông sang bên núi, vừa lội vừa kêu lạnh lắm.

     Bê-na-đê- [8] ta đứng trên bờ, thấy chị em kêu lạnh lắm thì ngần ngại, liền bảo chúng nó bỏ mấy hòn đá xuống giữa dòng [9] nước để mình bước lên trên cho khỏi lội. Nhưng mà hai đứa kia vội đi nhặt củi, không bỏ đá, cùng bảo Bê- [10] na-đê-ta rằng :

     - Hãy trút bít tất mà lội như chúng tôi.

     Bất đắc dĩ Bê-na-đê-ta phải chịu phép, tựa...

Chú thích :

(25) xay đâm : tức là gọi tắt xay bột đâm (= giã) gạo, như đã nói ở đầu trang {5}.

(26) hang Ma-sa-bi-e : như đã chú thích trên ở số 12, tiếng Pháp : la grotte de Massabielle, tiếng địa phương là Tuta de Massavielha.

(27) chữ Nôm "đập" thường viết với bộ "thủ" bên trái chỉ ý (= "đánh đập", rồi sau đó "giả tá" với nghĩa "cái đập nước"...), chữ "đạp" bên phải (nghĩa Hán – Việt là một xấp, một tệp... ; dùng làm phần hài thanh cho chữ "đập") gồm bên trên là chữ "thuỷ", dưới là chữ  "viết". Tuy nhiên ở đây in phía trên bên phải là chữ "mộc", tức là chữ   "tra" Hán – Việt (nghĩa Nho : nhón bằng ngón tay) bị bớt nét ngang dưới cùng, có lẽ thợ đúc chữ là người Tàu, không thạo chữ Nôm, nên đúc sai.




{10}

[1] vào hòn đá lớn mà bỏ giày và tuột bít tất ra.

     Đương khi Bê-na-đê-ta tuột bít tất ra, bỗng [2] chốc nghe u u như cơn gió nổi. Bê-na-đê-ta liền ngửa mặt trông lên ngọn cây cao mọc bên bờ sông [3] cái, thấy yên lặng như tờ, chẳng động đậy chút nào. Bê-na-đê-ta lấy làm lạ, cùng nghĩ rằng mình nghe sai, [4] cho nên lại cúi xuống toan tuột bít tất ra. Nhưng mà tay vừa mới cầm bít tất, thì lại nghe tiếng gió thổi [5] u u lên như lần trước. Bê-na-đê-ta ngửa mặt lên trông sang bên kia sông đào nơi hang đá Ma-sa- [6] bi-e, liền kinh khiếp run sợ cả và mình, muốn kêu lên song kêu không ra tiếng, chân thì run lẩy bẩy đứng [7] chẳng được, liền quỳ xuống đất. Trong hốc trên cửa hang có sáng như sáng mặt trời, nhưng mà êm con mắt, chẳng chói [8] như sáng mặt trời. Giữa sáng ấy có một người nữ hiện ra đẹp đẽ tốt lành quá sức, miệng lưỡi người ta nói [9] ra chẳng được.

     Người nữ ấy trông trạc độ hai mươi tuổi, tầm thước chẳng cao không thấp, mặc áo trắng như tuyết từ [10] vai đến gót, thắt dây mùi xanh da trời (28), hai mái rủ xuống đàng trước đến mắt cá chân, lại có khăn phủ đầu...

Chú thích :

(28) "mùi" nguyên bản dùng chữ   , tức là "màu" ; chữ  này tất nhiên cũng có thể đọc là "màu", "mầu", nhưng trong chữ Nôm, có chữ "màu" khác, viết là " " (âm Hán – Việt : "mâu") mà trong LĐTMLK cũng dùng (như trong "màu nhiệm, mầu nhiệm"), nên ở đây chúng tôi vẫn phiên chữ   là "mùi" với cách dùng xưa của nó.


Còn tiếp.